vanban.org

Bản án 12/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 16/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn T, Hoàng Th, Triệu M, K’Q, K’B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Nguyễn T 7(Bảy) năm tù, thời hạn tù kể từ ngày 28/7/2022. Bị cáo Hoàng Th 7(Bảy) năm tù, thời hạn tù kể từ ngày 28/7/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 12/2023/HS-ST Tuyên án 16/03/2023
Phúc thẩm Bản án 110/2023/HS-PT Tuyên án 31/07/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn T, Hoàng Th, Triệu M, K’Q, K’B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HS-ST
Ngày: 16/3/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Bùi Thị Là - Phó trưởng phòng Giáo dục và đào tạo huyện Đ;

+ Ông Cil Ha NôEn – Chủ tịch Hội nông dân xã M.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2023, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2023/TLST - HS ngày 17 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn T; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Beo. Sinh ngày: 24 tháng 4 năm 1998 tại Tây Ninh. Nơi ĐKHKTT: Phường N, TP. T, tỉnh Tây Ninh. Nơi ở: Thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo. Nghề nghiệp: Làm nông. Họ tên cha: Nguyễn N, sinh năm 1971. Họ tên mẹ: Đinh T, sinh năm (không rõ). Anh, em ruột: Có 02 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm (không rõ). Hiện cha, mẹ, em đang sinh sống tại phường N, TP. T, tỉnh Tây Ninh. Vợ: K’H, sinh năm 1997. Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2020. Hiện vợ và các con đang sinh sống tại xã Phi Liêng, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Tiền án, tiền sự: (không).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/7/2022, hiện dang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Hoàng Th Giới tính: Nam. Tên gọi khác: (không). Sinh ngày: 20 tháng 8 năm 1993 tại Lạng Sơn. Nơi ĐKHKTT: Xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nơi ở: Thôn D, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: (không). Học vấn: 7/12. Nghề nghiệp: Làm nông. Họ tên cha: Hoàng A, sinh năm 1972. Họ tên mẹ: Bàn H, sinh năm 1974. Anh, em ruột: Có 02 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1998. Hiện cha, mẹ, em đang sinh sống tại xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vợ tên Hoàng T sinh năm 1992, có hai con: lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2017. Vợ hiện nay ở đâu không rõ, con ở với người thân tại thôn P, xã K, huyện Đ.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/7/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Triệu M; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: (không). Sinh ngày: 27 tháng 6 năm 2000 tại Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT: Xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nơi ở: Thôn B, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: (không). Học vấn: 3/12. Nghề nghiệp: Làm nông. Họ tên cha: Triệu S, sinh năm 1976. Họ tên mẹ: Bàn L, sinh năm 1976. Anh, em ruột: Có 02 người, lớn nhất là 1996, nhỏ nhất sinh năm 2005. Hiện cha, mẹ, em đang sinh sống tại xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vợ, con: (Chưa có).

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: K’Q; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: (không). Sinh ngày: 15 tháng 9 năm 1998 tại Lâm Đồng. Nơi ĐKHKTT: Xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nơi ở: Thôn T, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cil; Tôn giáo: Tin lành. Học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Làm nông. Họ tên cha: Ha T, sinh năm 1978. Họ tên mẹ: K’W, sinh năm 1979. Anh, em ruột: Có 04 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2012. Hiện cha, mẹ và các em đang sinh sống tại xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vợ: K’H, sinh năm 1999, con sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/11/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ-Công an huyện Đ.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: K’B; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: (không). Sinh ngày: 23 tháng 6 năm 2000 tại Lâm Đồng. Nơi ĐKHKTT: Xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nơi ở: Thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mnông; Tôn giáo: Tin lành. Học vấn: 8/12. Nghề nghiệp: Làm nông. Họ tên cha: K’L sinh năm (không rõ). Họ tên mẹ: K’O, sinh năm (không rõ). Bị cáo là con thứ sáu trong gia đình có 07 chị em, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 2006. Hiện cha, mẹ, chị, em đang sinh sống tại xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/11/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh K’M; Sinh năm: 2003

Trú tại: thôn P, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 27/7/2022, Hoàng Th, sinh năm 1993 và K’M, sinh năm 2003, cùng trú tại thôn P, xã K, huyện Đ sang nhà Nguyễn T, sinh năm 1998, tạm trú tại thôn D, xã P, huyện Đ chơi. Tại đây, Th rủ T góp tiền mua ma túy về sử dụng, T đồng ý. Sau đó, T gọi điện thoại rủ thêm K’Q, sinh năm 1998, trú tại thôn T, xã K, huyện Đ và Triệu M, sinh năm 2000, trú tại thôn D, xã K, góp tiền mua ma túy dạng đá, cùng nhau sử dụng, thì Q và M đồng ý. Q nói T ứng trước số tiền là 100.000 đồng, sau này trừ vào tiền công của Q.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T và M điều khiển xe mô tô hiệu Honda Winner X, biển kiểm soát 70B2-003.73 đi sang ngã ba B, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng để mua ma túy. Khi đi đến quán bida tại thôn B, xã P, thì M gọi điện rủ K’B, sinh năm 2000, trú tại thôn D, xã P góp tiền mua ma túy về sử dụng, thi B đồng ý và đưa 100.000 đồng cho M. Trên đường đi, T cầm theo 300.000 đồng của T, Q và Th. M đưa 200.000 đồng của M và B cho T. Khi gần đến ngã ba L thì T để M xuống xe, rồi một mình điều khiển xe đi gặp 01 người đàn ông tên Bằng (không rõ nhân thân, lai lịch) mua ma túy dạng đá với số tiền là 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T quay lại đón M và nói cho M biết đã mua được ma túy. Trên đường về, Th gọi điện thoại cho T chỉ dẫn lên chòi cà phê gần đường Tam giác, thuộc thôn S, xã K. Một lúc sau, Q gọi điện thoại cho T hỏi địa điểm, thì T chỉ dẫn Q lên chòi cà phê này. Sau đó, M gọi điện thoại cho B đến nơi M và T đang dứng đợi rồi cùng nhau lên chòi cà phê. Khi đến nơi, Th, Q và K’M đang đợi trong chòi, T đưa túi nylon có chứa ma túy đá cho Th, còn M kiếm dao đưa cho Th cắt túi nylon và Th bóc vỏ gói thuốc Seven để lấy nỏ thủy tinh được dựng bên trong, rồi đổ ma túy đá vào cái nỏ. Sau đó Th dùng quẹt gas (loại khò) để đốt cái nỏ nung chảy ma túy đá rồi bắt đầu sử dụng bằng hình thức hút. Th hút xong tiếp tục châm lửa đốt lần lượt cho K’Q, M, K’B, T và K’M, mỗi người hút được 03 lần. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, thì bị Công an huyện Đ bắt quả tang.

Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 cái nỏ bằng thủy tinh đã bị vỡ, gồm nhiều mảnh vụn (được niêm phong riêng); 01 quẹt gas màu trắng, phần trên dán giấy màu tím; 01 vỏ chai nước có ghi chữ “Sting”, nắp chai màu xanh, giữa nắp có đục một lỗ và gắn 01 ống hút nhựa dài 15cm; 01 con dao, cán nhựa, màu đen dài 20cm; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Meseel, màu xanh của K’ Brốs; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo, màu đen của K’Q; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo, màu đỏ của Nguyễn T; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo, màu xanh của Hoàng Th; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, bàn phím số, vỏ màu xanh của Triệu M; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, biển kiểm soát 70B2-003.73 của Nguyễn T; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát 49B1-332.98 của K’Q.

Xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng, trả xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát 49B1-332.98 cho chị K’H, sinh năm 1999, trú tại thôn D, xã P, huyện Đ. Chị H không có yêu cầu gì. Các tang vật còn lại, Viện kiểm sát ra quyết định chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ để bảo quản.

Theo Kết luận giám định số 857 ngày 02/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Lâm Đồng: Mẫu ống thủy tinh và các mảnh thủy tinh được niêm phong gửi giám định có vi chất ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Quá trình điều tra xác định vai trò các bị cáo trong việc tổ chức sử dụng ma túy như sau:

- Hoàng Th: là người khởi xướng, rủ rê Nguyễn T và chuẩn bị địa điểm để các bị cáo sử dụng ma túy. Tại chòi cà phê thì sau khi T đưa ma túy đá cho Th thì Th bóc vỏ gói thuốc Seven để lấy nỏ thủy tinh được đựng bên trong đổ ma túy đá vào cái nỏ, sau đó Th bật quẹt gas để đốt cái nỏ nung chảy ma túy đá và là người sử dụng đầu tiên bằng hình thức hút. Sau đó, tiếp tục châm lửa đốt tiếp cho K’Q, M, B, K’M hút.

- Nguyễn T: là người bàn bạc, thống nhất với Hoàng Th rủ K’Q và Triệu M, ứng tiền cho Q để góp mua ma túy để cả nhóm sử dụng. T là người trực tiếp liên lạc và mua ma túy của đối tượng tên B và tại chòi cà phê cùng các bị cáo khác sử dụng ma túy bằng hình thức hút.

- Triệu M: Sau khi được T rủ rê sử dụng ma túy, cùng góp số tiền 100.000 đồng mua để cả nhóm sử dụng thì M đồng ý. M cùng T điều khiển xe mô tô đến ngã ba L, xã T, huyện H để mua ma túy. Tại chòi cà phê thì kiếm dao đưa cho Th cắt túi ni lông có chứa ma túy và cùng các bị cáo khác sử dụng ma túy bằng hình thức hút.

- K’Q: Sau khi được Nguyễn T rủ rê sử dụng ma túy, tuy không có tiền nhưng vẫn đồng ý để M ứng tiền công góp tiền vào mua ma túy cả nhóm sử dụng. Cùng với Th và K’M ở chòi cà phê đợi T và M đi mua ma túy về sử dụng và cùng các bị cáo khác sử dụng ma túy bằng hình thức hút.

- K’B: Sau khi được Triệu M rủ rê sử dụng ma túy, K’B đã đồng ý và đã đưa cho M 100.000 đồng để góp vào mua ma túy để cả nhóm sử dụng. Sau đó, cùng với T, M lên chòi cà phê và cùng các bị cáo khác sử dụng ma túy bằng hình thức hút.

Theo bản cáo trạng số: 05/CT-VKS ngày 16/01/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, thì các bị cáo bị truy tố về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện Kiểm sát đã truy tố, các bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ khẳng định rằng với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay thì hành vi của các bị cáo Nguyễn T, Hoàng Th, Triệu M, K’Q, K’B đã cấu thành “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn T, Hoàng Th, Triệu M, K’Q, K’B phạm tội“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn T, Hoàng Th mức hình phạt từ 7 đến 8 năm tù.

- Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Triệu M, K’Q, K’B mức hình phạt từ 6 đến 7 năm tù;

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy đối với 01 Phong bì được niêm phong có chữ ký ghi họ tên “Phạm D”, “Hoàng T”, “Võ N” và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Lâm Đồng” phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định; 01 quẹt gas màu trắng, phần trên dán giấy màu tím; 01 vỏ chai nước có ghi chữ “Sting”, nắp chai màu xanh, giữa nắp có đục một lỗ và gắn 01 ống hút nhựa dài 15cm; 01 con dao, cán nhựa, màu đen dài 20cm do xét thấy không còn giá trị sử dụng; Tịch thu bán sung quỹ đối với các tài sản liên quan đến hành vi phạm tội là 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Meseel, màu xanh của K’ B; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo, màu đen của K’Q; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo, màu đỏ của Nguyễn T; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo, màu xanh của Hoàng Th; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, bàn phím số, vỏ màu xanh của Triệu M; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, biển kiểm soát 70B2-003.73 của Nguyễn T.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Lời nói sau cùng của các bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo ăn năn, hối hận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến thắc mắc hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã được tiến hành đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo đều là những người biết rõ việc mua bán, tàng trữ trái phép các chất ma túy, cung cấp ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ… để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy là những hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Vào khoảng 13 giờ ngày 27/7/2022, Hoàng Th, sinh năm 1993 và K’M, sinh năm 2003, cùng trú tại thôn P, xã K, huyện Đ sang nhà Nguyễn T, sinh năm 1998, tạm trú tại thôn L, xã P, huyện Đ chơi. Tại đây, Th rủ T góp tiền mua ma túy về sử dụng, T đồng ý. Sau đó, T gọi điện thoại rủ thêm K’Q, sinh năm 1998, trú tại thôn L, xã Đ, huyện Đ và Triệu M, sinh năm 2000, trú tại thôn P, xã K, góp tiền mua ma túy dạng đá, cùng nhau sử dụng, thì Q và M đồng ý. Q nói T ứng trước số tiền là 100.000 đồng, sau này trừ vào tiền công của Q.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T và M điều khiển xe mô tô hiệu Honda Winner X, biển kiểm soát 70B2-003.73 đi sang ngã ba L, xã T, huyện H, tỉnh Lâm Đồng để mua ma túy. Khi đi đến quán bida tại thôn B, xã P, thì M gọi điện rủ K’B, sinh năm 2000, trú tại thôn D, xã P góp tiền mua ma túy về sử dụng, thi B đồng ý và đưa 100.000 đồng cho M. Trên đường đi, T cầm theo 300.000 đồng của T, Q và Th. M đưa 200.000 đồng của M và B cho T. Khi gần đến ngã ba L thì T để M xuống xe, rồi một mình điều khiển xe đi gặp 01 người đàn ông tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) mua ma túy dạng đá với số tiền là 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T quay lại đón M và nói cho M biết đã mua được ma túy. Trên đường về, Th gọi điện thoại cho T chỉ dẫn lên chòi cà phê gần đường Tam giác, thuộc thôn Đ, xã K. Một lúc sau, Q gọi điện thoại cho T hỏi địa điểm, thì T chi dẫn Q lên chòi cà phê này. Sau đó, M gọi điện thoại cho B đến nơi M và T đang dứng đợi rồi cùng nhau lên chòi cà phê. Khi đến nơi, Th, Q và K’M đang đợi trong chòi, T đưa túi nylon có chứa ma túy đá cho Th, còn M kiếm dao đưa cho Th cắt túi nylon và Th bóc vỏ gói thuốc Seven để lấy nỏ thủy tinh được dựng bên trong, rồi đổ ma túy đá vào cái nỏ. Sau đó Thắng dùng quẹt gas (loại khò) để đốt cái nỏ nung chảy ma túy đá rồi bắt đầu sử dụng bằng hình thức hút. Thắng hút xong tiếp tục châm lửa đốt lần lượt cho K’Q, M, K’B, T và K’M, mỗi người hút được 03 lần. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, thì bị Công an huyện Đ bắt quả tang.

Theo Kết luận giám định số 857 ngày 02/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Lâm Đồng: Mẫu ống thủy tinh và các mảnh thủy tinh được niêm phong gửi giám định có vi chất ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Đối chiếu lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn T, Hoàng Th, Triệu M, K’Q, K’B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trong vụ án, bị cáo Hoàng Th có hành vi rủ rê đầu tiên Nguyễn T, T rủ rê Triệu M, K’Q, M rủ K’B cùng thực hiện tội phạm, trong đó Th còn chuẩn bị địa điểm để sử dụng ma túy là tại chòi cà phê và chỉ đường cho các bị cáo khác cùng đến, Th là người bóc vỏ gói thuốc Seven để lấy nỏ thủy tinh được đựng bên trong rồi đổ ma túy đá vào cái nỏ, sau đó Th bật quẹt gas để đốt cái nỏ nung chảy ma túy đá rồi là người sử dụng đầu tiên bằng hình thức hút. Sau đó, tiếp tục châm lửa đốt tiếp cho K’Q, M, K’B, K’M hút.

Bị cáo Nguyễn T là người là người bàn bạc, thống nhất với Hoàng Th và rủ K’Q, Triệu M, ứng tiền cho Q để góp mua ma túy để cả nhóm sử dụng. T là người trực tiếp liên lạc và mua ma túy của đối tượng tên B và tại chòi cà phê cùng các bị cáo khác sử dụng ma túy bằng hình thức hút nên có vai trò tích cực nhất.

Các bị cáo Triệu M, K’Q, K’B sau khi bị rủ rê đã đồng ý và cùng góp tiền để mua ma túy, M kiếm dao đưa cho Th cắt túi ni lông và cùng các bị cáo khác sử dụng ma túy nên ba bị cáo này có vai trò tương đương với nhau trong vụ án, thấp hơn bị cáo T, Th.

Trong vụ án này có K’M có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tuy nhiên K’M không tham gia bàn bạc, góp tiền để mua ma túy với các bị cáo nên không có cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự đối với K’M với vai trò đồng phạm. Công an huyện Đ đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng pháp luật.

Đối với đối tượng tên Bằng, bán ma túy cho các bị cáo. Hiện nay không xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xử lý. Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:

Các bị cáo khác phạm tội không thuộc trường hợp bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo cùng có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tất cả các bị cáo.

Đối với các bị cáo Triệu M, K’Quỳnh, K’B phạm tội lần đầu, tham gia với vai trò không đáng kể trong vụ án có đồng phạm nên áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt các bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là coi thường pháp luật và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách Nhà nước độc quyền quản lý chất ma túy, góp phần duy trì tệ nạn ma túy và gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương, do đó cần thiết phải xử phạt nghiêm minh, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được các bị cáo có thu lợi gì từ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 Phong bì được niêm phong có chữ ký ghi họ tên “Phạm D”, “Hoàng H”, “Võ N” và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Lâm Đồng” phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định; 01 quẹt gas màu trắng, phần trên dán giấy màu tím; 01 vỏ chai nước có ghi chữ “Sting”, nắp chai màu xanh, giữa nắp có đục một lỗ và gắn 01 ống hút nhựa dài 15cm; 01 con dao, cán nhựa, màu đen dài 20cm là vật dụng các bị cáo sử dụng ma túy, xét thấy không còn giá trị nên tuyên tịch thu, tiêu hủy;

Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Meseel, màu xanh của K’ B; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo, màu đen của K’Q; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo, màu đỏ của Nguyễn T, 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo, màu xanh của Hoàng Th, 01 điện thoại di động hiệu Nokia, bàn phím số, vỏ màu xanh của Triệu M; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, biển kiểm soát 70B2-003.73 của Nguyễn T là các vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu, bán sung quỹ Nhà nước.

Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng, trả xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát 49B1-332.98 cho chị K’H, sinh năm 1999, trú tại thôn D, xã P, huyện Đ. Chị H không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn T, Hoàng Th, Triệu M, K’Q, K’B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt:

Bị cáo Nguyễn T 7(Bảy) năm tù, thời hạn tù kể từ ngày 28/7/2022.

Bị cáo Hoàng Th 7(Bảy) năm tù, thời hạn tù kể từ ngày 28/7/2022.

- Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt:

Bị cáo Triệu M 6 (Sáu) năm tù, thời hạn tù kể từ ngày 09/8/2022.

Bị cáo K’Q 6 (Sáu) năm tù, thời hạn tù kể từ ngày 15/11/2022.

Bị cáo K’B 6 (Sáu) năm tù, thời hạn tù kể từ ngày 15/11/2022.

[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:

Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong có chữ ký ghi họ tên “Phạm D”, “Hoàng H”, “Võ N” và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng. Phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định; 01 quẹt gas màu trắng, phần trên dán giấy màu tím; 01 vỏ chai nước có ghi chữ “Sting”, nắp chai màu xanh, giữa nắp có đục một lỗ và gắn 01 ống hút nhựa dài 15cm; 01 con dao, cán nhựa, màu đen dài 20 cm

- Tịch thu, bán sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Meseel, màu xanh của K’ B; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo, màu đen của K’Q; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo, màu đỏ của Nguyễn T, 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo, màu xanh của Hoàng Th; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, bàn phím số, vỏ màu xanh của Triệu M; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, biển kiểm soát 70B2-003.73 của Nguyễn T.

(Các vật chứng có đặc điểm cụ thể như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/3/2023 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về việc áp dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ