- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN NGỌC L, NGUYỄN BÁ Đ - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Ngọc L và Nguyễn Bá Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TĨNH GIA TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 57/2018/HSST Ngày: 10/7/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TĨNH GIA - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Anh và ông Nguyễn Xuân Tĩnh
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện VKSND huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Kiểm sát viên
Ngày 10/7/2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 56/2018/TLST-HS ngày 06/6/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2018/QĐXXST-HS ngày 25/6/2018 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Ngọc L - Sinh ngày 20/8/1993 tại xã H, huyện T, Thanh Hóa; Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Hữu Đức, sinh năm 1957; Con bà: Nguyễn Thị Quý, sinh năm 1959; Vợ: Vũ Thị Hiền, sinh năm 1995. Có 01 con sinh năm 2016;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 29/5/2017 bị Cơ quan CSĐT công an huyện Tĩnh Gia khời tố về tội "Cố ý gây thương tích", đến ngày 03/7/2017 được VKSND huyện Tĩnh Gia ra Quyết định đình chỉ vụ án hình sự số 01 đối với vụ án nêu trên.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2018 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Bá Đ - Sinh ngày 29/10/1997 tại xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Bá Đoan, sinh năm 1972; Con bà: Lê Thị Sáng, sinh năm 1977; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2018 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
1. Chị Bùi Thị Q - Sinh năm: 1994
Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa
Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
2. Anh Nguyễn Trọng A - Sinh năm: 1997
Nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
3. Anh Lê Mạnh C - Sinh năm 1980
Nơi ĐKHKTT: Tiểu khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Bá Đ thuê phòng 304 của nhà nghỉ H thuộc thôn Đ, xã N, huyện T do anh Lê Mạnh C làm chủ từ ngày 19/02/2018 để cùng ở với chị Bùi Thị Q. Khoảng 02 giờ ngày 05/3/2018 khi Đ và chị Q đang ở cùng nhau tại phòng nghỉ 304 thì Đ nhận được điện thoại của Nguyễn Ngọc L hỏi Đ đang ở đâu, xuống Dốc T đón L, Đ đồng ý và thuê xe Tắc xi xuống khu vực Dốc T thuộc thôn M, xã X, huyện T. Khi đến nơi Đ nhìn thấy L đang đứng cùng anh Nguyễn Trọng A, sau đó Đ, L và A lên xe Tắc xi đi đến nhà nghỉ H.
Sau khi vào phòng 304 thuộc nhà nghỉ H, Nguyễn Ngọc L nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên lấy trong người ra 01 gói ma túy để ở trên giường và rủ mọi người cùng sử dụng ma túy thì tất cả mọi người đều đồng ý. Lúc này L bảo Đ đi lấy bộ dụng cụ để sử dụng ma túy đá, Đ đi ra khỏi phòng rồi cầm về đưa cho L 01 nắp chai nhựa màu xanh bên trên có gắn 01 ống thủy tinh (cóng) và 01 ống hút nhựa. L bảo Đ đi lấy nước thì Đ lấy 01 vỏ chai nước ngọt nhãn hiệu Number One rồi vào nhà vệ sinh cho nước vào trong vỏ chai mang ra đưa cho L để L lắp hoàn chỉnh bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Sau khi lắp xong L cho ma túy đá vào trong cóng thủy tinh và sử dụng bật lửa gas có sẵn trong phòng đốt nóng ma túy thành dạng khói và sử dụng, sau đó L tiếp tục sử dụng bật lửa gas đốt ma túy lần lượt cho A, Đ và Q cùng sử dụng. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, khi mỗi người sử dụng được từ 02 đến 03 khói ma túy đá thì bị Công an huyện Tĩnh Gia phát hiện bắt quả tang. Thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu vàng loại chai nước ngọt nhãn hiệu Number One; 01 nắp chai nhựa màu xanh bên trên có gắn 01 ống hút nhựa màu trắng và 01 ống thủy tinh màu trắng bên trong có bám dính chất tinh thể màu nâu xám và 02 bật lửa gas.
Cơ quan điều tra đó tiến hành thu giữ, niêm phong mẫu nước tiểu của các đối tượng theo quy định và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Ngọc L tại Thôn Đ và chỗ ở của Nguyễn Bá Đ tại Thôn T, cùng xã H, huyện T nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Tại biên bản xét nghiệm nước tiểu ngày 05/3/2018 của phòng KTHS công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Mẫu nước tiểu của Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Bá Đ, Nguyễn Trọng A và Bùi Thị Q đều có kết quả dương tính với nhóm ATS (Là nhóm ma túy thuộc dạng Amphetamine).
Tại bản kết luận giám định số 576/MT-PC54 ngày 08/3/2018 của phòng KTHS công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Các hạt tinh thể màu nâu xám bám dính bên trong 01 ống thủy tinh màu trắng là ma túy, có tổng khối lượng 0,012g (Không phẩy không một hai gam) loại Methamphetamine.
Tại công văn số 196/PC54 ngày 10/5/2018 của phòng KTHS công an tỉnh Thanh Hóa trả lời về kết luận xét nghiệm và giám định như sau: ATS là nhóm ma túy tổng hợp hay tên gọi chung cho một nhóm chất kích thích có cấu trúc hóa học dạng Amphetamine. Methamphetamine là chất ma tuý thuộc nhóm ATS được tổng hợp từ chất Amphetamine.
Tại biên bản xác minh ngày 06 và 07/3/2018 trưởng công an xã H, huyện T và trưởng công an xã C, huyện C xác nhận: Nguyễn Trọng A và Bùi Thị Q không phải là người nghiện ma túy nên không thuộc diện quản lý người nghiện tại địa phương.
Tại phiếu siêu âm tử cung, phần phụ đối với Bùi Thị Q ngày 06/3/2018 của bệnh viện đa khoa khu vực huyện T kết luận: Hình ảnh siêu âm hiện tại không quan sát thấy gì bất thường.
Bản cáo trạng số 61/CT-VKSTG ngày 04/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tĩnh Gia đã truy tố Nguyễn Ngọc L và Nguyễn Bá Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Điểm b khoản 2 điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 và Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015. Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Đề nghị xử phạt Nguyễn Ngọc L từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù và Nguyễn Bá Đ từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Tịch thu tiêu hủy một bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu vàng nhãn hiệu Number One, 01 nắp chai nhựa màu xanh bên trên có gắn 01 ống hút nhựa màu trắng và 01 ống thủy tinh màu trắng và 02 bật lửa gas đó qua sử dụng. Buộc hai bị cáo phải chịu tiền án phí HSST.
Hai bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tĩnh Gia, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tĩnh Gia, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Tại phiên tòa Nguyễn Ngọc L và Nguyễn Bá Đ đã khai nhận: Khoảng 03 giờ ngày 05/3/2018 tại phòng 304 nhà nghỉ H thuộc thôn Đ, xã N, huyện T, Nguyễn Ngọc L và Nguyễn Bá Đ đã có hành vi tổ chức cho Nguyễn Trọng A và Bùi Thị Q cùng sử dụng trái phép chất ma túy bị tổ công tác Công an huyện Tĩnh Gia phát hiện bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và cần xử phạt nghiêm theo quy định của pháp luật.
Đại diện VKS thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Ngọc L và Nguyễn Bá Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015.
Hai bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Lời khai nhận của hai bị cáo phù hợp với tang vật cùng các chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với lời kết luận của đại diện VKS. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của Nguyễn Ngọc L và Nguyễn Bá Đ có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét tính chất vụ án: Hiện nay trên địa bàn huyện T nói riêng, cũng như trên toàn quốc nói chung, tình trạng mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi phạm tội của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, vi phạm chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của nhà nước, làm gia tăng tệ nạn nghiện ma túy và cũng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Hành vi của hai bị cáo đã làm cho nhân dân hoang mang, lo sợ. Vì vậy, cần phải tuyên cho mỗi bị cáo một hình phạt thật nghiêm và cần thiết phải cách ly hai bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này hai bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên khi lượng hình cũng cần phải phân tích đánh giá vai trò của từng bị cáo. Đối với bị cáo L là người đã đem ma túy đến phòng nghỉ của Đ thuê, bảo Đ đi chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy để mọi người sử dụng và L là người đốt ma túy cho mọi người sử dụng. Do đó bị cáo L có vai trò cao hơn bị cáo Đ và phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo Đ là hoàn toàn chính xác.
Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự:
- Đối với Nguyễn Ngọc L: Ngày 29/5/2017 bị Cơ quan CSĐT công an huyện Tĩnh Gia khởi tố về tội Cố ý gây thương tích, đến ngày 03/7/2017 được VKSND huyện Tĩnh Gia ra Quyết định đình chỉ vụ án. Đây không phải là tình tiết tăng nặng nhưng khi lượng hình cũng cần phải xem xét để quyết định hình phạt đối với bị cáo L.
- Cả hai bị cáo tiền án, tiền sự không, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa cả hai bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ, lượng giảm cho mỗi bị cáo một phần hình phạt để hai bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật.
- Đối với nguồn gốc gói ma túy, Nguyễn Ngọc L khai nhận mua của một người đàn ông lạ mặt ở thành phố Hà Nội nhưng không nhớ địa điểm, thời gian cụ thể nên không đủ căn cứ để xác minh tên tuổi địa chỉ của người này, cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định.
- Đối với nhà nghỉ H do anh Lê Mạnh C là chủ sở hữu, kinh doanh hợp pháp. Quá trình điều tra xác định, ngày 03/3/2018 anh Cường đã trực tiếp cung cấp thông tin về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng 304 của nhà nghỉ giúp cơ quan công an bắt giữ ngăn chặn hành vi của các đối tượng. Do đó Công an huyện Tĩnh Gia không xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở kinh doanh của anh Lê Mạnh Cường.
- Nguyễn Trọng A và Bùi Thị Q là người sử dụng trái phép chất ma tuý nên Công an huyện Tĩnh Gia đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Anh và Q theo khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Do đó hội đồng xét xử miễn xét.
Xét về phần hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả hai bị cáo.
Xét về vật chứng: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu vàng nhãn hiệu Number One, 01 nắp chai nhựa màu xanh bên trên có gắn 01 ống hút nhựa màu trắng và 01 ống thủy tinh màu trắng và 02 bật lửa gas đã qua sử dụng đã được nhập kho thi hành án dân sự huyện Tĩnh Gia theo phiếu nhập kho số NK2018/62 ngày 07/6/2018. Bộ dụng cụ trên không còn giá trị sử dụng. Do đó cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 để tịch thu tiêu hủy.
Xét về án phí: Hai bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Tuyên bố: Nguyễn Ngọc L và Nguyễn Bá Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Nguyễn Ngọc L 07 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/3/2018.
- Xử phạt: Nguyễn Bá Đ 07 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/3/2018.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 để tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu vàng nhãn hiệu Number One, 01 nắp chai nhựa màu xanh bên trên có gắn 01 ống hút nhựa màu trắng và 01 ống thủy tinh màu trắng và 02 bật lửa gas đã qua sử dụng đã được nhập kho thi hành án dân sự huyện Tĩnh Gia theo phiếu nhập kho số NK2018/62 ngày 07/6/2018.
- Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt hai bị cáo. Hai bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - UBND xã H, huyện T; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND huyện Tĩnh Gia; - Công an huyện Tĩnh Gia; - THADS huyện Tĩnh Gia; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Bắc |