- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự sơ thẩm: Lường Văn M, Cà Văn P phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lường Văn M, Cà Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2018/HSST Ngày 11/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Toµ ¸n nh©n d©n thµnh phè S¬n La, TØnh S¬n La
- Thµnh phÇn héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lại Thị Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quàng Văn Hặc;
2. Bà Hoàng Thanh Thúy.
- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Tía - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chung - Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 11 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2018/HSST ngày 19/04/2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/HSST-QĐ ngày 29/5/2018 đối với bị cáo:
1. Lường Văn M (tên gọi khác: không), sinh ngày 04/3/1994, tại huyện Q, tỉnh S. Nơi ĐKHKTT Bản K - xã C - huyện Q, tỉnh S; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bị cáo con ông Lường Văn V, sinh năm 1967 và con bà Cam Thị C, sinh năm 1973; chưa có có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 08/01/2018 đến nay, bị cáo có mặt.
2. Cà Văn P (tên gọi khác: không), sinh ngày 10/5/1996, tại huyện T, tỉnh S; nơi ĐKHKTT: Bản L, xã P, huyện T, tỉnh S; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bị cáo con ông Cà Văn T (đã chết); con bà: Cà Thị Q; sinh năm 1974; chưa có có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 08/01/2018 đến nay, bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21h ngày 08/01/2018, Lường Văn M gặp Cà Văn P tại khu vực bến xe khách thành phố Sơn La (thuộc tổ 1, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La). M nhờ P đi mua ma túy. P đồng ý, M điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, Biển kiểm soát 26B1 - 435.22 chở P đến khu vực nghĩa trang nhân dân thành phố Sơn La (thuộc tổ 2, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La) và đưa cho P 700.000 đồng, M dặn P 500.000 đồng mua hồng phiến, 200.000 đồng mua Hêrôin. Sau đó, M tiếp tục điều khiển xe máy chở P đến khu vực xóm trọ nhà bà H (thuộc tổ 1, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La). Khi đến nơi, M ở ngoài đường chờ, P xuống xe một mình đi vào xóm trọ gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ (không biết rõ họ tên, địa chỉ) đang đứng bên đường 01 gói ma túy bên trong có 06 viên hồng phiến với số tiền 500.000 đồng, rồi quay ra đưa cho M gói ma túy vừa mua được cùng 200.000 đồng tiền thừa. M cầm gói ma túy cất giấu vào trong mũ lưỡi trai cầm bên tay trái và cất 200.000 đồng (tiền do P không mua được Hêrôin). Sau đó, M điều khiển xe máy chở P quay về nhà nghỉ Minh Đức để sử dụng. Khi đi được khoảng 10m thì gặp Lường Văn Q là người quen của M, M rủ Q đi cùng, sau đó M trở P và Q đến trước nhà nghỉ Minh Đức thuộc tổ 1, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La tìm nơi sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an phường Quyết Tâm phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng là 06 viên nén màu hồng trong gói nilon màu hồng và 200.000 đồng cùng một số giấy tờ đồ vật khác.
Quá trình điều tra bị cáo Lường Văn M và Cà Văn P khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lường Văn M còn khai nguồn gốc tiền mua ma túy là của 01 đối tượng tên T (M không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ) nhờ mua ma túy để về nhà nghỉ Minh Đức thuộc tổ 1, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La cùng sử dụng.
Ngày 09/01/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng, kết quả: 06 viên nén màu hồng trong gói nilon màu hồng có trọng lượng 0,56 gam; lấy 03 viên có trọng lượng 0,27 gam làm mẫu gửi Phòng PC54 - Công an tỉnh Sơn La để giám định chất ma túy (ký hiệu MP1), còn lại 03 viên có trọng lượng 0,29 gam làm mẫu lưu kho (ký hiệu MP2).
Cùng ngày, Cơ quan cả nh sá t điề u tra - Công an thà nh phố Sơn La đã ra quyế t đị nh trưng cầu giám định số 54/QĐ đối với số tiền 200.000đ có phải là tiền do Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành không?; Quyết định trưng cầu giám định số 55/QĐ đối với mẫu gửi giám định kí hiệu MP1 có phải là chất ma túy không? Loại chất ma túy gì? Trọng lượng (Khối lượng) của mẫu gửi giám định là bao nhiêu?
Kết luận giám định số 187, 72 ngày 11/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu MP1 là chất ma túy; Loại chất Methamphetamine; Trọng lượng (khối lượng) của mẫu gửi giám định là 0,27 gam. Tổng trọng lượng (khối lượng) chất ma túy thu giữ là 0,56 gam. Loại chất Methamphetamine". “Số tiền 200.000 đồng thu giữ của Lường Văn M là tiền thật, do ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành”
Tại bản cáo trạng số: 21/CT-VKSTP ngày 18/4/ 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Lường Văn M, Cà Văn P về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn M, Cà Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Xử phạt bị cáo Lường Văn M từ 15 đến 18 tháng tù; Xử phạt bị cáo Cà Văn P từ 15 đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 0,29 gam Methamphetamine và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu + 01 mảnh nilon màu hồng đã niêm phong cùng 01 mũ lưỡi chai màu đen.
Tich thu sung quỹ Nhà nước: 200.000 đồng thu giữ của bị cáo.
Trả lại cho bị cáo Lường Văn M 01 giấy chứng minh thư nhân dân mang tên Lường Văn M.
Chấp nhận Cơ quan điều tra đã trả cho anh Quàng Văn D 01 xe máy nhãn hiệu Honda, BKS26B1- 435.22.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả cân tịnh vật chứng, kết luận giám định; nhất trí với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát; nhất trí với bản luận tội cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phần tranh luận; 02 bị cáo đều tỏ ra ăn năn và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa 02 bị cáo Lường Văn M, Cà Văn P đều có lời khai nhận tội thống nhất, Lường Văn M nhờ Cà Văn P mua 06 viên Hồng phiến có trọng lượng 0,56 gam để cùng sử dụng. Lời khai của các bị cáo phù hợp với kết quả điều tra như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập hồi 21 giờ 30 phút, ngày 08 tháng 01 năm 2018 tại khu vực tổ 1, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đối với Lường Văn M, Cà Văn P. Cùng vật chứng thu giữ là 0,56 gam viên nén kết luận giám định là Methamphetamine. Đồng thời phù hợp với lời khai của Lường Văn Q, trú tại bản N, xã M người đã chứng kiến Cơ quan điều tra bắt quả tang đối với Lường Văn M, Cà Văn P.
Với các căn cứ chứng minh trên đã có đủ cơ sở kết luận, ngày 08/01/2018 bị cáo Lường Văn M, Cà Văn P đã có hành vi cất giữ trái phép 0,56 gam ma túy, là chất Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Khi thực hiện hành vi cất giữ trái phép chất ma túy các bị cáo đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức cũng như điều khiển hành vi. Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì “Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c,… Methamphetamine…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam ”. Như vậy hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Vụ án có đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là đối tượng sử dụng ma túy, bị cáo M có tiền, bị cáo P mua ma túy để cùng sử dụng. Do đó, vai trò các bị cáo ngang nhau.
Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Quá trình điều tra và tại phiên toà đều thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đối chiếu với các quy định pháp luật, Héi ®ång xÐt xö thÊy cần thiết xử phạt cả 02 bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, đảm bảo biện pháp cải tạo, giáo dục riêng, phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Xét hoàn cảnh gia đình 02 bị cáo đều khó khăn, nghề nghiệp không ổn định, thu nhập thấp, không có tài sản có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với 02 bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 0,29 gam Methamphetamine còn lại sau giám định cùng 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu + 01 mảnh nilon màu hồng đã niêm phong đúng quy định của pháp luật (trong 01 phong bì KTHS), cần tịch thu tiêu huỷ cùng 01 mũ lưỡi chai màu đen, phía trước có chữ “Phu Thai CAT”, phía sau có dòng chữ “Yes Wecan” đã qua sử dụng, do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
- Đối với 200.000 đồng thu giữ của bị cáo, là tiền bị cáo dùng vào mục đích phạm tội, nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 tờ chứng minh nhân dân số 050786841 do Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 22/6/2015 mang tên Lường Văn M, là giấy tờ tùy thân của bị cáo, nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda, BKS26B1- 435.22 thuộc quyền sở hữu của anh Quàng Văn D. Anh D cho Lường Văn M mượn, nhưng anh D không biết, không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo, Cơ quan điều tra đã trả cho Anh Quàng Văn D, anh D không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xét.
Liên quan trong vụ án này: bị cáo M khai nguồn gốc tiền mua ma túy, là của đối tượng tên T (Mạnh không biết họ và địa chỉ của T) đưa tiền cho M mua ma túy về cùng sử dụng và người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo P, nhưng bị cáo P không quen biết người này. Ngoài lời khai của các bị cáo không còn chứng cứ nào khác, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố: Các bị cáo Lường Văn M, Cà Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt bị cáo Lường Văn M 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, giữ: 08/01/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lường Văn M.
- Xử phạt bị cáo Cà Văn P 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, giữ: 08/01/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Cà Văn P.
2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Đều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,29 gam Methamphetamine + 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu + 01 mảnh nilon màu hồng đã niêm phong trong 01 phong bì KTHS, mặt trước ghi "Vật chứng lưu kho vụ Lường Văn M, SN: 1994 và Cà Văn P, SN: 1996. Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 08/01/2018”. Mặt sau có chữ ký và họ tên của thành phần tham gia niêm phong, 01 điểm chỉ của đối tượng Cà Văn P, 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Sơn La; 01 mũ lưỡi chai màu đen, phía trước có chữ “Phu Thai CAT”, phía sau có dòng chữ “Yes Wecan” đã qua sử dụng.
Tich thu sung quỹ Nhà nước: 200.000 đồng thu giữ của bị cáo Lường Văn M (đã niêm phong).
Trả lại cho bị cáo Lường Văn M: 01 tờ chứng minh nhân dân số 050786841 do Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 22/6/2015 mang tên Lường Văn M.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/04/2018 giữa Cơ quan Công an thành phố Sơn La và Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Các bị cáo Lường Văn M, Cà Văn P mỗi bị cáo phải nộp 200.000,đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Kháng cáo: Các bị cáo Lường Văn M, Cà Văn P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 11/6/2018./. Nơi nhận:
T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Sơn La;
THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP Sơn La;
- Viện kiểm sát ND tỉnh Sơn La;
- Công an TP Sơn La;
- Bị cáo;
- Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
- Trại giam CA tỉnh Sơn La;
- THADS TP Sơn La;
- THAPT;
- Lưu: hồ sơ, án văn.
Lại Thị Hiếu Nơi nhận:
T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Sơn La;
THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Sơn La;
- VKSND TP Sơn La;
- Công an TP Sơn La;
- Bị cáo;
- Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
- Trại giam CA tỉnh Sơn La;
- THADS TP Sơn La;
- THAPT;
- Lưu: hồ sơ, án văn.
Lại Thị Hiếu THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hội Thẩm nhân dân
Thẩm phán
Hội Thẩm nhân
Chủ Tọa phiên tòa
dân
Thu giữ của bị cáo Đức 01 chiếc điện thoại do động nhãn hiệu LAND ROVER màu xanh đen số Imei 1: 356160730069574, số Imei 2: 35616073069582 qua sử dụng và 01 ví da; thu giữ của bị cáo Dũng 02 điện thoại di động. ác bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, giá trị sử dụng thấp, nên tịch thu tiêu hủy. trả cho các bị cáo Đức 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Mạnh Đức số 050349189 do Công an Sơn La cấp ngày 07/10/2013.
Khoảng 19h 05 phút, ngày 19 tháng 01 năm 2017 tại khu vực đường bản Tông, xã Chiềng Xôm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, Nguyễn Mạnh Đức và Nguyễn Văn Dũng bị bắt quả tang đang có hành vi cất giấu 01 gói chất bột màu trắng có tổng khối lượng 2,77 gam, các bị cáo khai nhận là Heroin.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Mạnh Đức và Nguyễn Văn Dũng khai nhận:
| Nơi nhận : -Toà án tỉnh Sơn la; 1 -VKSND TP Sơn La; 2 -Công an TP Sơn La; 1 -Bị cáo; 1 - Người có QLVNVLQ; 1 - Sở Tư pháp; 1 - Trại giam; 1 -THADS TP Sơn La; 1 -THA.Hình sự; 1 -Lưu hồ sơ - Án văn. 2 | T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lại Thị Hiếu |