vanban.org

Bản án 12/2018/DSST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung T.

Buộc anh Bùi Văn L, chị Huỳnh Thị Minh L phải liên đới bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho ông Nguyễn Trung T với số tiền 2.075.307đ (hai triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn ba trăm lẻ bảy đồng). Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của ông T đối với các khoản điều trị từ ngày 19/5- 2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Ong T va anh L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung T.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘ ĐỨC
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2018/DSST
Ngày: 20/11/2018
V/v tranh chấp về bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Thu Dung;

2/ Ông Lê Duy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nguyễn Trọng Thành là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Quảng Ngãi tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2018/TLST-DS, ngày 24 tháng 7 năm 2018 về “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2018/QĐXXST- DS, ngày 02/11/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trung T

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, ông Bùi T, anh Bùi Văn L, chị Huỳnh Thị Minh L

Ông T ủy quyền cho bà L theo văn bản ủy quyền đề ngày 08/8/2018. Chị L ủy quyền cho anh Bùi Văn L theo văn bản ủy quyền đề ngày 08/8/2018

Cùng địa chỉ: Khu dân cư số 17, tổ dân phố 3, thị trấn M, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.

Các bên đương sự có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/7/2018; đơn khởi kiện bổ sung ngày 19/7/2018, các lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn là ông Nguyễn Trung T trình bày:

Vào lúc 18h30phút, ngày 01/5/2017 khi đi ngang nhà anh L, chị là người cùng tổ dân phố, thấy anh L ở nhà, ông T vào nhà anh L để hỏi là vì sao anh L lại bôi xấu gia đình ông tại cuộc họp khu dân cư. Khi ông mới hỏi như vậy thì anh L bảo vợ gọi điện thoại cho ba mẹ anh L là ông T bà L (nhà ông T cũng gần đó) ra đồng thời khóa cổng ngõ lại, khi ông T đang cải vã với anh L thì chị L nắm giật vai áo ông làm ông T ngã xuống đất, anh L bảo chị L lấy dây dừa và dây su cột đồ ra trói ông T lại, lúc đó ông T, bà L cũng vừa đến, ông T đứng chửi, chị L, bà L đá vào lưng, mặt ông, anh L đè lên người và đánh vào đầu, mặt ông. Ông T bị trói tay, chân để nằm trên sân nhà anh L khoảng 20 phút, sau đó Công an trị trấn M đến mở trói cho ông nhưng không lập biên bản hiện trường xảy ra vụ việc vì tình làng nghĩa xóm nên giải hòa, ông không đồng ý nên đi về và đến tiệm chụp hình TT ở tổ dân phố 2, thị trấn M để chụp lại những thương tích mà nhà anh L đã gây ra cho ông, sau khi bị đánh, trói ông bị trày sướt nhiều ngoài da nhưng ông chưa thấy đau nên tự chạy xe về nhà.

Đêm đó, ông thấy đau cả người nhất là tay trái, chiều hôm sau ông có nhờ bạn chở đến thôn C, xã Đ bó lá cái tay bị đau và người bó lá nói cổ tay trái ông bị gãy, lúc đó ông mới biết tay ông bị gãy, khi bó lá xong ông nằm ở nhà nhưng không hết nhứt, đến ngày 04/5/2017 con trai ông ở Thành phố HCM về chở ông ra Bệnh viện M khám và chụp phim bán thuốc cho về nhưng không thấy bớt nên ngày 8/5/2017 ông phải nhập viện để điều trị vết thương đến ngày 17/5/2017 xuất viện, ngày 19/5/2017 ông nhập viện lại để điều trị tiếp vì vết thương chưa bớt đến ngày 24/5/2017 xuất viện. Thương tích của ông được giám định tỷ lệ là 9%.

Qua vụ việc ông bị Công an thị trấn M xử phạt vi phạm hành chính số tiền 200.000đ về hành vi hành chính “gây rối trật tự khu dân cư”.

Ông T khẳng định cổ tay trái của ông bị gãy là do bốn người T (đứng chửi), L, L, L dùng chân tay đá, đánh vào mặt ông và dùng dây trói tay chân ông, ông giơ tay lên đỡ và quá trình dằn co để cột tay chân ông dẫn đến cổ tay trái của ông bị gãy là lỗi của họ nên ông yêu cầu cả bốn người T, L, L và L phải bồi thường thiệt hại cho ông bao gồm các khoản: chi phí điều trị là 156.225đ; tiền xe đi lại là 660.000đ; tiền ngày công lao động cho người bệnh và người nuôi bệnh từ ngày 08/5 - 17/5/2017 và từ ngày 19/5 – 24/5/2017 là 15 ngày mỗi ngày công là 180.000đ cụ thể: (180 x 15) x 2 = 5.400.000đ. Tổng cộng ông T yêu cầu ông T, bà L, anh L và chị L phải liên đới bồi thường cho ông số tiền là 6.216.225đ. Ngoài ra, ông T không có yêu cầu gì khác.

Trong bản tường trình ngày 03/8/2018, các lời khai và tại phiên tòa bị đơn là anh Bùi Văn L trình bày:

Giữa anh và ông T không có mâu thuẫn gì, chiều tối ngày 01/5/2017 khi anh đang lau nhà thì ông T uống rượu, cầm một khúc cây vô nhà anh gây chuyện, khi tới ông T miệng thì chửi tay thì cầm cây đập bể tủ đựng ti vi, đập rớt cái lồng chim làm bay một con chim của anh rồi dùng tay nắm cổ áo anh dẫn đến hai bên xảy ra xô xát, ông T dùng tay đánh vào mặt anh, một lúc sau vợ anh là chị L đi làm về thấy ông T đánh anh, chị L chạy ra đường hô hoán nhưng mọi người ở khu dân cư chưa đi làm về nên anh bảo chị L đóng cổng lại và vợ chồng anh có dùng dây su, dây dừa trói chân, tay ông T lại để nằm trên sân (trói lại với mục đích không để ông T đập phá đồ đạt trong nhà anh nữa) rồi điền thoại cho Công an thị trấn lên giải quyết, khi Công an đến cũng là lúc cha mẹ anh là ông T, bà L đến chứ cha mẹ anh không tham gia đánh trói ông T. Việc trói ông T là do anh và vợ là chị Lthực hiện, không liên quan đến cha mẹ anh. Anh và chị L đã dùng dây su cột đồ, dây dừa trói ông Tg và để nằm trên sân nhà anh khoảng 20 phút là đúng nhưng sau khi Công an thị trấn tới mở trói thì ông T nói: “chú biết sai rồi chú về đây và giải hòa” nên Công an không lập biên bản sự việc xảy ra, khi ông T ra về không bị thương tích gì nhưng nay ông T bảo bị gãy cổ tay trái và yêu cầu ông T, bà L, anh và chị L phải bồi thường thiệt hại cho ông với số tiền 6.216.225đ. Anh thừa nhận giữa ông T và vợ chồng anh có xảy ra xô xát, anh chị có dùng dây trói ông T lại nhưng anh chị không đồng ý bồi thường vì anh chị không có lỗi mà ông T là người có lỗi, ông uống rượu rồi tới nhà anh gây chuyện trước.

Sau vụ việc xảy ra anh và chị L bị Công an thị trấn M xử phạt vi phạm hành chính, anh bị xử phạt số tiền 2.500.000đ, chị L số tiền 2.000.000đ về hành vi hành chính “xâm hại đến sức khỏe người khác” nhưng anh chị không thống nhất và hiện nay chưa nộp phạt

Bà Nguyễn Thị L và anh Bùi Văn L trình bày: Thống nhất ý kiến trình bày của anh L và không có ý kiến gì khác.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh L chị L phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông T là 2.075.307đ. Đương sự còn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Nguyên đơn là ông Nguyễn Trung T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Bùi T, bà Nguyễn Thị L, anh Bùi Văn L và chị Huỳnh Thị Minh L bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, cho nên Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm” theo quy định tại Khoản 6 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Trung T:

Xét về lỗi gây ra thiệt hại: Tại phiên tòa anh L, chị L thừa nhận anh chị có xô xát với ông T và chỉ có anh chị dùng dây dừa, dây su cột đồ để trói tay chân ông T lại, hành vi của anh chị đã bị Công an thị trấn M xử phạt về hành vi hành chính “xâm hại đến sức khỏe người khác” nhưng anh chị chưa thi hành quyết định xử phạt vì không có mặt tại địa phương.

Trên cơ sở kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm: Tóm tắt Bệnh án điều trị nội trú ngày 14/6/2017; hồ sơ bệnh án; biên bản làm việc ngày 03/10/2018 giữa Tòa án với Bệnh viện huyện M; Kết luận giám định số: 112/2017/GĐPY, ngày 21/8/2017 của Phòng giám định pháp y thuộc Bệnh viện Đa khoa Quảng Ngãi; lời khai của những người làm chứng như: ông Nguyễn D, ông Nguyễn Xuân M, anh Đỗ Văn P và quyết định xử phạt hành chính đối với anh L, chị L đã đủ cơ sở xác định hậu quả ông Nguyễn Trung T bị thương tích “gãy mõm trâm trụ trái” phải điều trị tại Bệnh viện huyện M là do anh Bùi Văn L, chị Huỳnh Thị Minh L có hành vi xô xát qua lại với ông T rồi dùng dây dừa, dây su cột đồ bắt trói tay chân ông T để nằm trên sân nhà mình khoảng 20 phút gây ra. Khi sự việc xảy ra anh L cho là ông T có rượu vào nhà anh đạp phá đồ đạt nên anh mới bắt trói lại để hạn chế việc hoại phá của ông T, ông T không thừa nhận, sự việc không có người làm chứng và hai bên không ai chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ nhưng thực tế hai bên thừa nhận có xảy ra xô xát và anh L, chị L đã có hành vi bắt trói tay chân ông T. Do vậy, việc anh L bảo vợ đóng cổng lại rồi cùng thực hiện hành vi bắt trói ông T là hành vi trái pháp luật, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân là có lỗi. Tuy nhiên, ông T cũng có một phần lỗi nên cũng cần xét lỗi của ông T để xem xét phần bồi thường.

Xét yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của ông Nguyễn Trung T đối với ông T, bà L, anh L, chị L thì thấy: Ông T cho rằng thương tích mà ông yêu cầu bồi thường thiệt hại là do ông T, bà L, anh L và chị L gây ra, nhưng căn cứ vào lời khai của người làm chứng là anh Phạm Ngọc T và anh Nguyễn Tấn C thì ông T bà L không cùng thực hiện hành vi xô xát, bắt trói ông T cùng với anh L chị L, ông T lại không có chứng cứ để chứng minh nên không có căn cứ buộc ông T, bà L phải liên đới bồi thường thiệt hại cho ông. Vì anh L, chị L thừa nhận hành vi có xô xát, bắt trói ông T cho nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa ông T và anh L, chị L.

Xét về năng lực chịu trách nhiệm dân sự: anh L, chị L là người có đầy đủ năng lực hành vi nên phải tự chịu trách nhiệm dân sự do hành vi trái pháp luật của mình gây ra đối với ông T.

Xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của anh L, chị L có xô xát rồi bắt trói tay chân ông T dẫn đến hậu quả ông T bị thương tích “gãy mõm trâm trụ trái” là phù hợp nên buộc anh L, chị L phải chịu trách nhiệm dân sự đối với hành vi do mình gây nên và phải bồi thường thiệt hại cho ông T theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP, ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Xét về hậu quả bị thiệt hại của ông T:

- Xem xét yêu cầu khoản tiền xe taxi đưa ông T từ nhà tại tổ dân phố 3, thị trấn M đến Bệnh viện huyện M với số tiền 440.000đ, có căn cứ nên chấp nhận.

- Xem xét yêu cầu khoản tiền thuốc và chi phí điều trị thương tích của ông T yêu cầu là 110.615đ, ông T đã cung cấp đầy đủ các hóa đơn chứng từ hợp lệ nên có căn cứ chấp nhận.

- Xem xét yêu cầu về khoản tiền thu nhập của ông T bị mất trong thời gian nằm viện và khoản tiền công của 01 người chăm sóc ông T (từ ngày 08/5/2017 đến ngày 19/5/2017) là 10 ngày. Cụ thể: (10 ngày x 180.000đ/ngày) x 2 = 3.600.000đ yêu cầu này phù hợp với mức tiền công lao động phổ thông hiện nay ở địa phương nên được chấp nhận.

Đối với phần ông T yêu cầu về chi phí điều trị từ ngày 19/5 – 24/5/2017 gồm: tiền thuốc 45.610đ, tiền xe đi lại 220.000đ; khoản tiền thu nhập của ông T và người chăm sóc bị mất trong thời gian nằm viện 5 ngày 1.800.000đ. Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ vào bệnh án theo dõi hàng ngày của Bệnh viện huyện M thì đợt điều trị từ ngày 19/5 – 24/5/2017 ông T nhập viện để điều trị một bệnh khác không liên quan đến thương tích do anh L chị L gây ra nên những chi phí trên không được chấp nhận.

Như vậy, tổng số tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của ông T đối với anh L, chị L được chấp nhận là 4.150.615đ.

Từ những phân tích nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận: yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung T về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm đối với anh L, chị L là có căn cứ. Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến hậu quả ông T bị thương tích “gãy mõm trâm trụ trái” phải điều trị cũng có một phần lỗi của ông T vì khi đến nhà anh L ông có uống rượu, nói to tiếng và ông bị Công an thị trấn M xử phạt hành chính về hành vi “gây rối trật tự khu dân cư”. Đối với anh L chị L gây ra thương tích cho ông T là vô ý gây thiệt hại, bắt trói ông T nhằm hạn chế việc xô xát chờ công an đến giải quyết chứ không cố ý gây thương tích và muốn xô xát với ông T đến cùng và anh chị bị Công an thị trấn M xử phạt hành chính về hành vi “xâm hại đến sức khỏe người khác” nên mỗi bên cùng chịu 50% chi phí thiệt hại. Theo đó chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông T, buộc anh L, chị L phải liên đới bồi thường thiệt hại cho ông T số tiền 2.075.307đ

Về án phí: Căn cứ các Điều 6, Điều 12, Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14. Anh L, chị L cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của ông T đối với anh L, chị L được Tòa chấp nhận là 300.000đ. Ông Nguyễn Trung T thuộc trường hợp miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí Tòa án theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 6 Điều 26, các Điều 235, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS); các Điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật dân sự 2015; Điều 147 BLTTDS, Điều 6, Điều 12, Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung T.

Buộc anh Bùi Văn L, chị Huỳnh Thị Minh L phải liên đới bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho ông Nguyễn Trung T với số tiền 2.075.307đ (hai triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn ba trăm lẻ bảy đồng).

Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của ông T đối với các khoản điều trị từ ngày 19/5- 24/5/2017 số tiền 2.065.610đ (hai triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn sáu trăm mười đồng)

2. Về án phí: Anh Bùi Văn L, chị Huỳnh Thị Minh L cùng phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Nguyễn Trung T thuộc trường hợp miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí Tòa án theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 20/11/2018).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ