vanban.org

Bản án 115/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Hồ Thị T

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Hồ Thị T, sinh năm 1988; thường trú: thôn F, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An (nay là xã Q, tỉnh Nghệ An) (do bà Hồ Thị T1 ký kết) với Công ty Cổ phần S là vô hiệu. Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 749213056 không phải là bà Hồ Thị T, sinh năm 1988. Bà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Hồ Thị Thìn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Hồ Thị T
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 115/2025/QĐST-LĐTP Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 8 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: bà Phan Thị Hiền.

Thư ký phiên họp: bà Phùng Kim Ngân - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 236/2025/LĐ-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 62/2025/QĐST-LĐ ngày 21 tháng 8 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu: bà Hồ Thị T, sinh năm 1988; thường trú: thôn F, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An (nay là xã Q, tỉnh Nghệ An). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Hồ Thị T1, sinh năm: 1993; thường trú: xóm H G, xã H, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là xóm H G, phường K, Thành phố H); Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Công ty cổ phần S; địa chỉ: đường số D, KCN Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là đường số D, KCN Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội cơ sở L – Bảo hiểm xã hội thành phố H; địa chỉ: đường N, khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

- Tại đơn yêu cầu bà Hồ Thị T trình bày: từ tháng 5/2006 đến tháng 03/2022, bà T làm việc tại Công ty TNHH S1 (Việt Nam) và đóng bảo hiểm xã hội số 0206170959. Nay bà T tiến hành điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì Bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện hồ sơ bảo hiểm của bà T bị trùng.

Lý do bị trùng bảo hiểm: bà Hồ Thị T1 là chị em của bà T sử dụng thông tin Hồ Thị T giao kết Hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần S khoảng thời gian từ 7/2009 đến tháng 07/2012 và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số 7409213056. Thời gian đó, bà T đang giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH S1 (Việt Nam).

Do đó, bà T bị trùng thời gian tham gia bảo hiểm từ tháng 7/2009 đến tháng 7/2012 tương đương với thời gian bà Hồ Thị T1 mượn hồ sơ lao động của bà T. Nay bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Hồ Thị T và Công ty Cổ phần S từ tháng 7/2009 đến tháng 7/2012 là vô hiệu.

Về hậu quả của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu: bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị T1 trình bày: Vào thời điểm năm 2009, bà Hồ Thị T1 có nhu cầu xin việc làm mà chưa đủ tuổi lao động nên mượn thông tin của bà Hồ Thị T để đi ký hợp đồng lao động tại Công ty cổ phần S. Bà T1 và bà T là chị em họ với nhau nên mới hỗ trợ bà Hồ Thị T1 mượn thông tin cá nhân làm hồ sơ lao động. Vì cả hai không hiểu biết về pháp luật, chỉ nghĩ đến cách tìm kế sinh nhai nên mới để lại hậu quả pháp lý như ngày hôm nay. Do đó, nay bà T đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tuyên Hợp đồng lao động bà Hồ Thị T và Công ty Cổ phần S là vô hiệu thì bà T1 đồng ý.

- Công ty Cổ phần S vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không cung cấp văn bản trình bày ý kiến.

- Bảo hiểm xã hội cơ sở L trình bày:

Qua kiểm tra dữ liệu lưu trữ hiện có trên hệ thống của ngành BHXH, đối với thông tin họ tên bà Hồ Thị T, sinh ngày 20//3/1988, số chứng minh nhân dân: xxxxxxxxx, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxxx có quá trình tham gia BHXH, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), ở các mã số BHXH như sau:

Mã số BHXH: 749213056 tham gia từ tháng 07/2009 đến tháng 7/2012 tại Công ty CP S. Mã Bảo hiểm được BHXH tỉnh B xác nhận chốt sổ, chưa nhận BHXH một lần, chưa nhận trợ cấp BHXH.

Mã số BHXH: 0206170959 tham gia từ 05/2006 đến tháng 01/2020 tại Công ty TNHH S1. Từ tháng 5/2006 đến tháng 01/2009 đã nhận BHXH một lần, từ tháng 9/2009 đến tháng 03/2022 chưa nhận bảo hiểm xã hội. Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị:

Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: xét thấy, yêu cầu của người yêu cầu là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về thủ tục tố tụng: bà Hồ Thị T, bà Hồ Thị T1, Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu có yêu cầu giải quyết vắng mặt; Công ty Cổ phần S đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Căn cứ lời khai của các đương sự xác định: từ tháng 7/2009 đến tháng 7/2012, người lao động tên Hồ Thị T, sinh ngày 20/3/1988, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx được Công ty CP S tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7409213056. Quan hệ lao động giữa Công ty Cổ phần S và bà Hồ Thị T phát sinh từ hợp đồng lao động tháng 7/2009. Tuy nhiên, bà Hồ Thị T và bà Hồ Thị T1 thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần S và thực tế làm việc tại Công ty T3 khoảng thời gian từ tháng 7/2009 đến tháng 7/2012 theo hợp đồng lao động là bà Hồ Thị T1 chứ không phải bà Hồ Thị T do bà T1 mượn thông tin, giấy tờ của bà T để đi làm. Đối với bà T trong thời gian này đang thực tế làm việc tại Công ty TNHH S1 (Việt Nam). Mục đích mượn giấy tờ là để bà T1 có việc làm do thời gian này bà T1 chưa đủ tuổi để ứng tuyển lao động. Trình bày của bà T và bà T1 phù hợp với hồ sơ bảo hiểm xã hội thể hiện trong thời gian từ tháng 7/2009 đến tháng 7/2012 bà Hồ Thị T1 có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty Cổ phần S và Công ty TNHH S1 (Việt Nam). Xét thấy, việc bà T1 lấy tên bà T để giao kết hợp đồng lao động là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động. Do đó, việc bà Hồ Thị T yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động từ tháng 7/2009 đến tháng 7/2012 giữa bà Hồ Thị T và Công Ty Cổ phần S là có căn cứ theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005, các đương sự khác cũng thống nhất, không có tranh chấp. Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội cơ sở L đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Hồ Thị T bị trùng từ tháng 7/2009 đến tháng 7/2012. Do đó, bà T yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty Cổ phần S với bà T (do bà T1 sử dụng thông tin của bà T để ký) từ tháng 7/2009 đến tháng 7/2012 có cơ sở chấp nhận.

Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà T và ý kiến của bà về việc xác định người lao động tại Công ty Cổ phần S trong giai đoạn từ tháng 7/2009 đến tháng 7/2012 là bà Hồ Thị T1, không phải là bà Hồ Thịn T2. Bà T2 và bà T1 có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 749213056.

.

Về lệ phí: bà Hồ Thị T phải chịu theo quy định.

Ý kiến và đề nghị của kiểm sát viên tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39; Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9 của Bộ luật lao động năm 1994; Căn cứ khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19; Điều 50; Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Lao động năm 2012; Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51 của Bộ luật Lao động năm 2019;

Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Hồ Thị T

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Hồ Thị T, sinh năm 1988; thường trú: thôn F, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An (nay là xã Q, tỉnh Nghệ An) (do bà Hồ Thị T1 ký kết) với Công ty Cổ phần S là vô hiệu.

Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 749213056 không phải là bà Hồ Thị T, sinh năm 1988. Bà Hồ Thị T và bà Hồ Thị T1 được quyền liên hệ với C có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 749213056.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Hồ Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số: 0007726 ngày 06/8/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ