- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thi H - Công ty cpo phan SV"
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:111/2024/LĐ-ST Ngày: 24 – 7 – 2024 V/v tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Thu Yến – Nguyên Phó Trưởng
Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành
phố Thuận An;
2. Bà Lê Thị Nguyệt
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Thái Vương Triều là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm– Kiểm sát viên.
Vào ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm vụ án lao động thụ lý số 56/2024/TLST-LĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-LĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1989; trú tại: Tổ dân phố I, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tỉnh, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty Cổ phần S; trụ sở: Đường số D, khu công nghiệp Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1992; trú tại: T, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tỉnh; địa chỉ liên lạc: 118/6 khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Bảo hiểm xã hội thành phố T; địa chỉ: Đường N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Minh H1 - Giám đốc, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Năm 2008 bà Nguyễn Thị H có cho bà Nguyễn Thị N mượn hồ sơ để bà N xin việc tại Công ty Cổ phần S. Bà N làm việc tại Công ty cổ phần S từ tháng 6/2008 đến tháng 12/2008 với tên của bà H. Trong khoảng thời gian này, bà H đang làm việc tại một công ty khác. Đến nay do cần rút bảo hiểm 01 lần nhưng khi thực hiện thủ tục rút bảo hiểm thì có sự trùng lắp hồ sơ bảo hiểm nên không thể rút bảo hiểm được. Do nhiều lần liên hệ Bảo hiểm xã hội tỉnh Bình Dương để giải quyết vấn đề bị trùng thời gian tham gia bảo hiểm nhưng không được và được hướng dẫn khởi kiện đến Tòa án để giải quyết về hợp đồng vô hiệu. Nhận thấy việc bà Nguyễn Thị N mượn chứng minh nhân dân của nguyên đơn để ký kết hợp đồng lao động với Công ty S sai quy định, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Tuyên hợp đồng lao động giữa người lao động Nguyễn Thị H (do bà Nguyễn Thị N là người ký kết) với người sử dụng lao động Công ty Cổ phần S từ tháng 6 năm 2008 đến tháng 12 năm 2008 là vô hiệu.
Do bà Nguyễn Thị H đồng ý cho bà Nguyễn Thị N sử dụng chứng minh nhân dân của mình để làm việc tại Công ty S dẫn đến việc trùng lặp quá trình đóng bảo hiểm xã hội là do lỗi của nguyên đơn nên nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ án phí lao động sơ thẩm.
Quá trình tố tụng, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn Công ty Cổ phần S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng nhưng người đại diện theo pháp luật của bị đơn vẫn không đến làm việc và cũng không có văn bản trình bày ý kiến cũng như cung cấp tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N trình bày:
Bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị N là chị em họ. Năm 2008 do bà N chưa đủ tuổi lao động nên có mượn hồ sơ cá nhân của bà H để xin việc tại Công ty cổ phần S. Trên thực tế bà N là người trực tiếp làm việc tại Công ty S từ tháng 6/2008 đến tháng 12/2008 thì nghỉ việc. Nay bà H yêu cầu tuyên hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị H (do bà Nguyễn Thị N là người ký kết) với người sử dụng lao động Công ty cổ phần S từ tháng 6/2008 đến tháng 12/2008 là vô hiệu thì bà N đồng ý. Bà N không yêu cầu gì đối với thời gian tham gia bảo hiểm này.
Đại diện hợp pháp của Bảo hiểm xã hội thành phố T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và có ý kiến trình bày như sau:
Khoảng thời gian từ tháng 6/2008 đến tháng 12/2008 bà Nguyễn Thị H, sinh ngày 20/10/1989 tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty Cổ phần S với mã số bảo hiểm xã hội 7408148194 và từ tháng 9/2008 đến tháng 12/2008 bà Nguyễn Thị H tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH S1 (Việt Nam) với mã số bảo hiểm 7908403500. Quá trình tham gia bảo hiểm cả 02 Công ty đều có tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm tai nạn lao động – Bệnh nghề nghiệp cho Nguyễn Thị H, sinh ngày 20/10/1989, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx, số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx. Đối với mã số bảo hiểm xã hội 7408148194 đã chốt sổ bảo lưu ngày 07/4/2021, chưa hưởng trợ cấp một lần, đã hưởng trợ cấp thất nghiệp với quá trình 01/2009 đến 03/2019 theo Quyết định số 39489 ngày 09/6/2020. Đối với mã số bảo hiểm 7908403500 được bảo hiểm xã hội Thành phố H xác nhận chốt sổ bảo lưu ngày 26/12/2012, đã hưởng trợ cấp BHXH một lần theo QĐ số 24 ngày 13/3/2014, chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền theo quy dịnh pháp luật. Bị đơn không thực hiện quyền theo quy định.
Về nội dung: Căn cứ Điều 50, 51 Bộ luật Lao động năm 2019; Điều 127; Điều 131 của Bộ luật dân sự; Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp hợp đồng lao động.
Về kiến nghị khắc phục: Không
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp:
Bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động giữa người lao động Nguyễn Thị H (do bà Nguyễn Thị N là người ký kết) với người sử dụng lao động Công ty Cổ phần S từ tháng 6 năm 2008 đến tháng 12 năm 2008 là vô hiệu. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” được quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty Cổ phần S; trụ sở: Đường số D, khu công nghiệp Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án nguyên đơn bà H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà N và Bảo hiểm thành phố T có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn Công ty cổ phần S đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Về nội dung có yêu cầu: Bà Nguyễn Thị N sử dụng chứng minh nhân dân của bà Nguyễn Thị H để ký kết hợp đồng lao động với Công ty cổ phần S từ tháng 6/2008 đến tháng 12/2008, được công ty tham gia BHXH được thể hiện tại sổ bảo hiểm xã hội sổ số: 7408148194 cho bà Nguyễn Thị H, đồng thời tại thời điểm tháng 9/2008 đến tháng 12/2008 Công ty TNHH S1 (Việt Nam) tham gia bảo hiểm cho bà H theo mã số bảo hiểm 7908403500. Qua tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thông tin bảo hiểm xã hội cung cấp, có cơ sở xác định: Việc bà N sử dụng thông tin trong chứng minh nhân dân của bà H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty cổ phần S là không đúng chủ thể xác lập hợp đồng, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động được quy định tại Điều 17 Bộ luật Lao động năm 1994 (Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2019). Căn cứ Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015) yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động giữa người lao động có tên Nguyễn Thị H và Công ty cổ phần S từ tháng 6/2008 đến tháng 12/2008 là có cơ sở chấp nhận. Do hợp đồng lao động vô hiệu nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tại thời điểm giao kết hợp đồng.
Nguyên đơn chỉ yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, ngoài ra không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, từ chối nhận các quyền lợi có liên quan đến việc tham gia BHXH tại Công ty cổ phần S. Đây là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Tòa án không xem xét giải quyết về hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Đối với bị đơn, mặc dù đã được triệu tập nhưng không đến tham gia tố tụng. Trường hợp có phát sinh tranh chấp liên quan đến việc giải quyết hậu quả hợp đồng lao động vô hiệu thì được quyền yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác. Sau khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.
Án phí lao động sơ thẩm: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ án phí nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Các Điều 5, 32, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 127 và Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005;
Các Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994; Điều 50 và Điều 190 Bộ luật
Lao động năm 2019;
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc “tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” đối với Công ty Cổ phần S.
2. Tuyên hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị H (do bà Nguyễn Thị N ký kết) với Công ty Cổ phần S (thời gian làm việc từ 6/2008 đến tháng 12/2008) vô hiệu.
3. Về hậu quả của Hợp đồng lao động vô hiệu: Bảo hiểm xã hội thành phố T thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với bà Nguyễn Thị H theo quy định pháp luật.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí lao động sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị H tự nguyện chịu 300.000 đồng, khấu trừ toàn bộ vào tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004724 ngày 28/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An.
5. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND Tp. Thuận An; - CCTHADS Tp. Thuận An; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thu Thảo |