vanban.org

Bản án 11/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 06/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c, đ khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phan Văn L, Võ Quốc A, Kiều Công T, Trần Văn K, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Thị N phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c khoản 1 Điều 322 của…

1. Căn cứ vào điểm a, c, đ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26-7-2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc, Nguyễn Thanh T và đông phạm - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c, đ khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phan Văn L, Võ Quốc A, Kiều Công T, Trần Văn K, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Thị N phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c khoản 1 Điều 322 của…
  • Căn cứ chính? Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN N DÂN
HUYỆN C
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HS-ST
Ngày 06-02-2023

N DAH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN N DÂN HUYỆN C, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Bảo Ngọc.

Các Hội thẩm N dân: Ông Văn Thành Theo;

Ông PhA Thành Tín.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vương Lệ Hằng – Thư ký Tòa án N dân huyện C, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát N dân huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Kiểm sát viên; bà Thái Thị Thủy Tiên – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 31 tháng 01 và 06 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án N dân huyện C, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn ThAh T, sinh năm 1981; nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị S (đã chết); vợ: Lê Thị Trường A (đã ly hôn); con: 01 người, sinh năm 2013; tiền án: Không có; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC ngày 28-02-2022 của Công A xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã chấp hành nghĩa vụ nộp phạt ngày 02-3-2022.

N thân: Có 01 tiền sự.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 26-7-2022, chuyển tạm giam ngày từ 04-8-2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công A huyện C, tỉnh Tây Ninh.

2. PhA Văn L, sinh năm 1982; nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp TH, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông PhA Văn L và bà Trần Thị Đ; vợ: Trần Phương L; con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 26-7-2022, chuyển tạm giam ngày từ 04-8-2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công A huyện C, tỉnh Tây Ninh.

3. Võ Quốc A (tên gọi khác: Heo), sinh năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp TH, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn N và bà Trương Thị Y; vợ: Nguyễn Thị Thu T; con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không có.

N thân: Ngày 26-10-2017, bị Công A huyện C, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

4. Kiều Công T (tên gọi khác: C), sinh năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiều Công C (đã chết) và bà Tôn P; vợ: Nguyễn ThAh T; con: có 01 người, sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không có.

N thân:

+ Ngày 23-12-2014, Công A huyện C, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 223/QĐ-XPHC xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã chấp hành nghĩa vụ nộp phạt ngày 26-12-2014 (đã đủ thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính).

+ Ngày 30-01-2018, bị Tòa án N dân huyện C, tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 xử phạt số tiền 30.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã chấp hành nghĩa vụ nộp tiền phạt và nghĩa vụ đóng án phí cùng ngày 17-4-2018 (đã xóa án tích).

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

5. Trần Văn K, sinh năm 1988; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L (đã chết) và bà Lê Thị H (đã chết); vợ; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

6. Nguyễn Văn C, sinh năm 1968; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P (đã chết) và bà Huỳnh Thị B (đã chết); vợ: Nguyễn Thị N; con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không có.

N thân: Ngày 10-4-2020, bị Công A xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 29/QĐ-XPHC xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã chấp hành nghĩa vụ nộp phạt ngày 10-4-2020 (đã đủ thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính).

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

7. Nguyễn Thị N, sinh năm 1982; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn U và bà Nguyễn Thị Đ; chồng: Thân ThAh T; con: Có 01 người, sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

8. Nguyễn ThAh B (tên gọi khác: H), sinh năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: KP 5, Phường M, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị Kim L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

9. Huỳnh Hữu T (tên gọi khác: T B), sinh năm 1989; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố 4, Phường 3, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Hữu T và bà Lê Thị V; vợ: Lê ThAh T; con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

10. Ngô ThAh Q, sinh năm 1996; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: KP1, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Thái L và bà Vũ Thị H; vợ: Nguyễn Thị Thu T; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

11. Nguyễn Hoài N (tên gọi khác: B C), sinh năm 1994, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị Hồng Đ; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

12. Nguyễn Trung T, sinh năm 2002, nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: KP 5, Phường M, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng T và bà PhA Thị LA T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ 00 phút ngày 26-7-2022, tại ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, Công A huyện C, tỉnh Tây Ninh phối hợp với Phòng Cảnh sát Hình sự Công A tỉnh Tây Ninh bắt quả tAg tụ điểm đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền do Nguyễn ThAh T và PhA Văn L đứng ra tổ chức. Thu giữ tại địa điểm bắt quả tAg số tiền 430.000 đồng, thu giữ trên người của những người tham gia đánh bạc số tiền 52.520.000 đồng, 02 con gà trống có gắn cựa sắt đã chết, 02 con gà loại gà che đã chết, 18 cuộn băng keo màu cam cùng nhiều đồ vật khác có liên quA.

Quá trình điều tra chứng minh được:

Từ khoảng tháng 6/2022 đến nay, hằng ngày từ khoảng từ 09 giờ đến 12 giờ, Nguyễn ThAh T và PhA Văn L cùng nhau đứng ra chuẩn bị địa điểm, dụng cụ, rủ rê, lôi kéo nhiều người để tổ chức đánh bạc bằng hình thức đá gà thắng, thua bằng tiền tại phần đất không có người trông coi liền kề nhà của Nguyễn Thị N tại ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. T có nhiệm vụ nhận hẹn gà, làm trọng tài các trận gà và thu tiền trọng tài với tỷ lệ 5% trên tổng số tiền mà các bên chủ gà cá cược. L có nhiệm vụ chuẩn bị địa điểm, dụng cụ, nhận hẹn gà, quA sát và thu tiền của những người làm trọng tài đá hàng sáo từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng/1 cặp gà, số tiền thu được T và L chia đều sau khi kết thúc các trận đá gà. Nhung sử dụng phần đất thuộc quyền quản lý của mình giáp ranh với phần đất T và L tổ chức đá gà, bố trí võng xung quanh khu vực nhà để những người tham gia đánh bạc nằm nghỉ khi chưa có cặp gà đá và sử dụng phần sân nhà của mình để những người đến tham gia đánh bạc gửi xe mô tô. Nhung thu lợi từ việc bán cơm và nước uống trung bình khoảng 100.000 đồng đến 150.000/ngày. Do trường gà hằng ngày đông người đến tham gia chơi, các cặp gà đá với nhau nhiều, T và L không thể kiểm soát được hết những người tham gia đặt cược. Nhằm mục đích thu lợi bất chính được nhiều tiền từ việc tổ chức trường gà nên T và L kêu Võ Quốc A, Trần Văn K, Nguyễn Văn C, Kiều Công T giúp cho T và L “làm biện” để kiểm soát người chơi, tạo điều kiện cho người chơi đặt cược dễ dàng, người tham gia đá hàng sáo sẽ trả cho người làm biện số tiền là 5% trên số tiền cá cược, tiền công của người làm biện được trả bằng cách mỗi cặp gà thì người làm biện thu tiền của những người chơi rồi đưa lại cho T và L số tiền 50.000 đồng đến 100.000 đồng, phần tiền còn lại người làm biện sẽ được hưởng. Để thu hút được nhiều cặp gà đến đá, T kêu A và T hẹn gà cho T, K, C phụ giúp T và L kiểm soát những người tham gia chơi, móc nối những người tham gia cá cược với nhau. A giúp sức cho T bằng cách liên lạc với Nguyễn Thanh B và người chơi khác để hẹn gà cho T. B giúp sức cho A để hẹn gà cho người chơi và thả gà để đá, B hưởng lợi từ việc người chơi trả cho B số tiền từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng/01 cặp gà.

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 26-7-2022, do biết được Nguyễn Thanh B là người thả gà đá nên Ngô Thanh Q điện thoại cho B để hẹn đá xổ con gà che nặng 1,2kg với số tiền 1.000.000 đồng và giao lưu vài triệu thì B đồng ý. B điện thoại cho A để hẹn đá xổ con gà che nặng 1,2kg của Q thì A đồng ý. Cùng lúc này, Huỳnh Hữu T điện thoại cho người đàn ông tên S (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) để nhờ S hẹn đá xổ con gà che nặng 1,2kg của T. S điện thoại cho T để hẹn đá xổ con gà che nặng 1,2 kg thì T đồng ý. Lúc này, T điện thoại kêu A tìm ai có con gà nặng 1,2 kg đem đến trường gà của T để đá thì A nói vừa nhận con gà của B có cùng trọng lượng thì T đồng ý. T tiếp tục điện thoại cho người đàn ông tên M L (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) hỏi có gà để đá không thì người đàn ông này nói có con gà nặng 2,2 kg, đá xổ với số tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.0000 đồng, giao lưu với số tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Sau đó, T điện thoại cho A để kêu tìm ai có con gà nặng 2,2 kg để đá với số tiền như trên thì A nói là đã nhận gà của một người tên B (không rõ tên họ tên và địa chỉ) có cùng trọng lượng thì T đồng ý. Sau đó, A điều khiển xe mô tô biển số 70G1 – 578.54 của mình đến trường gà để tham gia làm biện.

Khoảng 09 giờ ngày 26-7-2022, Ngô Thanh Q cùng với Nguyễn Hoài N, Nguyễn Trung T bàn bạc, thống nhất lấy con gà che màu chuối nặng 1,2 kg của Q và hùn tiền với nhau, trong đó, Q bỏ ra số tiền 2.000.000 đồng, N và T mỗi người bỏ ra số tiền 1.500.000 đồng, được tổng số tiền là 5.000.000 đồng để cùng tham gia đặt cược và thuê Nguyễn Thanh B thả gà, băng cựa sắt với tiền công từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Huỳnh Hữu T đến địa điểm đá gà của T và L và nhờ người đàn ông tên P (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) đem 01 con gà che nặng 1,2 kg đến cho T. Nhóm của Q thoả T cá cược với T số tiền 5.000.000 đồng. Sau khi cân gà xong, B là người băng cựa sắt và thả gà cho nhóm của Q, T T tiếp băng cựa sắt cho gà của T. Kết quả gà của T thắng, nhóm của Q đưa cho T số tiền 5.000.000 đồng. Sau đó, T giữ lại 250.000 đồng là tiền trọng tài và đưa lại cho T số tiền thắng cược là 4.750.000 đồng. Sau khi cặp gà đầu tiên đá xong, đến cặp gà thứ 2 của người đàn ông tên Bình và tên M L, đang băng cựa chuẩn bị đá thì bị lực lượng Công A kiểm tra bắt quả tAg. Những người tên M L, Bình, S, P chạy thoát.

Trong lúc cặp gà của T và Q, N, T đAg đá thì T, A, C, KhAh làm trọng tài cho những người đá hàng sáo. Qua đó, C nhận được tiền biện là 80.000 đồng, đưa lại cho T 50.000 đồng; A nhận được tiền biện và đưa cho T 50.000 đồng; KhAh nhận được tiền biện và đưa cho T 100.000 đồng; T nhận được tiền biện và đưa cho T 100.000 đồng. Trong ngày 26-7-2022, tổng số tiền T nhận được từ những người làm biện là 300.000 đồng. Sau đó, T đưa lại cho L cất giữ. Cụ thể những người tham gia đá hàng sáo như sau:

- Trương Trung K, sinh năm 1999, ngụ ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia đặt cược tại trận gà đầu tiên với số tiền 200.000 đồng. Kết quả thua 200.000 đồng.

- Phạm Thành U, sinh năm 1980, ngụ ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia đặt cược tại trận gà đầu tiên với số tiền 400.000 đồng. Kết quả thua 400.000 đồng.

- Phạm Minh T, sinh năm 1983, ngụ ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia đặt cược tại trận gà đầu tiên với số tiền 500.000 đồng. Kết quả thua 500.000 đồng.

- Lê Văn M, sinh năm 1996, ngụ ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia đặt cược tại trận gà đầu tiên với số tiền 300.000 đồng. Kết quả thua 300.000 đồng.

- Nguyễn Việt P, sinh năm 1983, ngụ ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia đặt cược tại trận gà đầu tiên với số tiền 500.000 đồng. Kết quả thắng 500.000 đồng.

- Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1976, ngụ ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia đá hàng sáo tại trận gà đầu tiên đặt cược với số tiền là 1.000.000 đồng. Kết quả Đông thắng được 700.000 đồng.

- Diệp Thanh G, sinh năm 1965, ngụ ấp TH, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia đặt cược tại trận gà đầu tiên với số tiền là 400.000 đồng. Kết quả 400.000 đồng.

- Nguyễn Quốc T, sinh năm 1980, ngụ KP 5, Phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh tham gia đặt cược tại trận gà đầu tiên với số tiền là 500.000 đồng. Kết quả thua 500.000 đồng.

- Nguyễn Thế C, sinh năm 1987, ngụ KP 2, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh tham gia đặt cược tại trận gà đầu tiên với số tiền là 300.000 đồng. Kết quả thua 300.000 đồng.

- Nguyễn Văn T, sinh năm 1989, ngụ ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia đặt cược tại trận gà đầu tiên với số tiền là 200.000 đồng. Kết quả 200.000 đồng.

- Trương Văn L, sinh năm 1990, ngụ ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia đặt cược tại trận gà đầu tiên với số tiền là 500.000 đồng. Kết quả thắng 500.000 đồng.

- Trương Thành N, sinh năm 1985, ngụ ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia đặt cược tại trận gà đầu tiên với số tiền là 200.000 đồng. Kết quả thua 200.000 đồng.

- Ngoài việc làm biện, Võ Quốc A còn tham gia đá hàng sáo tại trận gà đầu tiên với số tiền là 1.000.000 đồng. Kết quả thua 1.000.000 đồng; Kiều Công T còn tham gia đá hàng sáo tại trận gà đầu tiên với số tiền là 2.000.000 đồng. Kết quả thắng 2.000.000 đồng; Trần Văn K hùn tiền với người đàn ông tên H (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) còn tham gia đá hàng sáo tại trận gà đầu tiên với tổng số tiền là 2.000.000 đồng. Kết quả thắng 2.000.000 đồng.

Tổng số tiền những người tham gia đá hàng sáo cá cược tại trận gà đầu tiên là 10.000.000 đồng.

Trong lúc cặp gà của người tên B và M L chuẩn bị đá thì T, A, C, K làm biện cho những người đá hàng sáo cụ thể như sau:

- Nguyễn Hồng L, sinh năm 1965, ngụ ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia đặt cược tại trận gà thứ hai với số tiền là 500.000 đồng. Chưa có kết quả.

- Nguyễn Thanh V, sinh năm 1977, ngụ ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia đặt cược tại trận gà thứ hai với số tiền là 500.000 đồng. Chưa có kết quả.

- Võ Tuấn C, sinh năm 1996, ngụ ấp H, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia đặt cược tại trận gà thứ hai với số tiền là 500.000 đồng. Chưa có kết quả.

- Huỳnh Quốc Q, sinh năm 1990, ngụ ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia đặt cược tại trận gà thứ hai với số tiền là 500.000 đồng. Chưa có kết quả.

- Trần Minh T, sinh năm 1993, ngụ ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia đặt cược tại trận gà thứ hai với số tiền là 200.000 đồng. Chưa có kết quả.

Tổng số tiền những người tham gia đá hàng sáo cá cược tại trận gà thứ hai là 2.200.000 đồng.

Quá trình điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo Huỳnh Hữu T, Ngô Thanh Q, Nguyễn Hoài N và Nguyễn Trung T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nguyễn Thanh T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lại tiếp tục vi phạm.

Vật chứng còn lại gồm:

- 86.430.000 đồng;

- 01 cân đồng hồ hiệu Nhơn Hòa, loại 05 kg, đã qua sử dụng;

- 02 giỏ xách để đựng gà;

- 18 cuộn băng keo màu cam.

- 01 xe mô tô loại Wave, màu xanh, biển số 70K6 - 4382, đã qua sử dụng;

- 01 cây dao tự chế có chiều dài 116 cm, cán bằng gỗ dài 84 cm, lưỡi kim loại dài 32 cm;

- 01 cây dao tự chế có chiều dài 123 cm, cán bằng gỗ dài 91 cm, lưỡi kim loại dài 32 cm;

- 01 cây dao tự chế có chiều dài 115 cm, cán bằng gỗ dài 87 cm, lưỡi kim loại dài 28 cm;

- 01 cây dao tự chế có chiều dài 130 cm, cán bằng gỗ dài 90 cm, lưỡi kim loại dài 40 cm;

- 01 cây dao tự chế có chiều dài 120 cm, cán bằng gỗ dài 88 cm, lưỡi kim loại dài 32 cm;

- 02 cây dao tự chế có chiều dài 123 cm, cán bằng gỗ dài 85 cm, lưỡi kim loại dài 38 cm;

- 01 cây dao tự chế có chiều dài 133 cm, cán bằng gỗ dài 97 cm, lưỡi kim loại dài 36 cm;

- 01 cây dao tự chế có chiều dài 125 cm, cán bằng gỗ dài 87 cm, lưỡi kim loại dài 38 cm;

- 02 ống bằng kim loại hình trụ dài màu đen (loại gậy bóng chày) có chiều dài 69 cm, 01 đầu lớn đường kính 05cm;

- 01 cây dao tự chế có chiều dài 140 cm, cán bằng ống kim loại dài 99 cm, lưỡi kim loại dài 41 cm;

+ 01 điện thoại di động Iphone màu trắng đã qua sử dụng;

+ 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Tanh T, số: 072081001364;

+ 01 điện thoại di động Iphone màu đen đã qua sử dụng;

+ 01 điện thoại di động Iphone màu trắng đã qua sử dụng;

+ 01 điện thoại di động Iphone màu đen đã qua sử dụng;

+ 01 điện thoại di động OPPO màu xanh đã qua sử dụng.

Kê biên tài sản đối với:

- Huỳnh Hữu T: Thửa đất số 46, 47, tờ bản đồ số 61 tại KP 4, Phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh có tổng diện tích 1014,20m2.

- Phan Văn L: Thửa đất số 656, tờ bản đồ số 11 tại ấp TH, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh có diện tích 176,4m2.

- Nguyễn Văn C: Thửa đất số 1322, tờ bản đồ số 7 tại ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh có diện tích 480,6m2.

Các bị cáo Nguyễn Thanh T, Ngô Thanh Q, Nguyễn Trung T, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Thị N, Nguyễn Hoài N, Võ Quốc A, Kiều Công T và Trần Văn K không có tài sản nên không tiến hành kê biên.

Tại bản Cáo trạng số: 99/CT-VKSCT ngày 30-11-2022 của Viện kiểm sát N dân huyện C, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm a, c, đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Phan Văn L, Võ Quốc A, Kiều Công T, Nguyễn Văn C, Trần Văn K, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Thị N tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Huỳnh Hữu T, Ngô Thanh Q, Nguyễn Hoài N, Nguyễn Trung T tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T, Phan Văn L, Võ Quốc A, Kiều Công T, Nguyễn Văn C, Trần Văn K, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Thị N phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Huỳnh Hữu T, Ngô Thanh Q, Nguyễn Hoài N, Nguyễn Trung T phạm tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ điểm a, c, đ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 15 tháng đến 24 tháng tù.

- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Văn L từ 12 đến 18 tháng tù.

- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Quốc A từ 12 tháng đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách không quá 36 tháng.

- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Kiều Công T từ 12 tháng đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách không quá 36 tháng.

- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 12 tháng đến 17 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách không quá 34 tháng.

- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn K 12 tháng đến 17 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách không quá 34 tháng.

- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn ThAh B 12 tháng đến 17 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách không quá 34 tháng.

- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 12 tháng đến 17 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách không quá 34 tháng.

- Căn cứ khoản 1 Điều 322; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu T từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

- Căn cứ khoản 1 Điều 322; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Thanh Q từ 06 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

- Căn cứ khoản 1 Điều 322; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N từ 06 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

- Căn cứ khoản 1 Điều 322; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T từ 06 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

- Bị cáo T: Bị cáo đã ăn năn hối cải, biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

- Bị cáo L: Bị cáo đã ăn năn hối cải, biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, nuôi vợ con.

- Bị cáo A: Bị cáo đã biết sai, đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

- Bị cáo T: Bị cáo đã biết sai, đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

- Bị cáo K: Bị cáo đã biết sai, đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

- Bị cáo C: Bị cáo đã biết sai, đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

- Bị cáo Nhung: Bị cáo đã biết sai, đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

- Bị cáo B: Bị cáo đã biết sai, đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

- Bị cáo T: Bị cáo đã biết sai, đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

- Bị cáo Q: Bị cáo đã biết sai, đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

- Bị cáo N: Bị cáo đã biết sai, đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

- Bị cáo T: Bị cáo đã biết sai, đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như sau:

Khoảng tháng 6 năm 2022, Nguyễn Thanh T cùng với Phan Văn L trực tiếp đứng ra chuẩn bị địa điểm, dụng cụ gồm cân, băng keo,...rủ rê, lôi kéo Võ Quốc A, Kiều Công T, Trần Văn K, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Thị N để tổ chức đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền tại phần đất trống không có người trông coi liền kề với quán nước của Nhung tại ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. T có nhiệm vụ nhận hẹn gà, làm trọng tài các trận gà và thu tiền trọng tài với tỷ lệ 5% trên tổng số tiền mà các bên chủ gà cá cược. L có nhiệm vụ chuẩn bị địa điểm, dụng cụ, nhận hẹn gà, quan sát và thu tiền của những người làm biện đá hàng sáo từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng/cặp gà, số tiền thu được T và L chia đều sau khi kết thúc các trận đá gà.

T và L kêu A, K, C, T giúp cho T và L “làm biện” kiểm soát người tham gia đá hàng sáo, thu tiền biện là 5% trên số tiền cá cược, rồi đưa lại cho T và L số tiền 50.000 đồng đến 100.000 đồng, phần tiền còn lại người làm biện sẽ được hưởng. T giao A và T hẹn gà cho T. B giúp A hẹn gà cho người chơi và thả gà để đá, hưởng lợi từ từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng/cặp gà.

Nguyễn Thị N đã sử dụng phần đất là địa điểm thuộc quyền quản lý của mình để những người đến tham gia đánh bạc gửi xe mô tô, nằm võng nghỉ ngơi để phục vụ bán cơm, nước uống nhằm thu lợi và giúp sức cho việc tổ chức đánh bạc.

Vào ngày 26-7-2022, thông qua B và A, Ngô Thanh Q, Nguyễn Hoài N, Nguyễn Trung T hẹn đá cặp gà với Huỳnh Hữu T tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 10.000.000 đồng. Trong đó, Q hùn 2.000.000 đồng, N, T hùn mỗi người 1.500.000 đồng cá cược với T 5.000.000 đồng, kết quả gà của T thắng, T nhận từ T 4.750.000 đồng. Trong lúc cặp gà của T và nhóm của Q đang đá thì A, K, C, T làm biện cho những người đá hàng sáo với tổng số tiền của những người đá hàng sáo là 10.000.000 đồng; cặp gà thứ hai những người đá hàng sáo với tổng số tiền 2.200.000 đồng. T nhận được tiền biện từ A, C, K, T với tổng số tiền là 300.000 đồng và nhận được tiền làm trọng tài từ cặp gà của T và nhóm của Q là 250.000 đồng. Sau khi cặp gà đầu tiên đá xong, đến cặp gà thứ hai đang băng cựa chuẩn bị đá thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Xét thấy, T là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc mà vẫn cố ý phạm tội, hành vi của T đã cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c, đ khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của L, A, T, C, K, B, Nhung đã cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của Huỳnh Hữu T, Ngô ThAh Q, Nguyễn Hoài N, Nguyễn Trung T đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự, an ninh công cộng ở địa phương nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Khi quyết định hình phạt, cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo T có ông nội là liệt sĩ, hiện gia đình bị cáo đang thờ cúng, đây được xem là tính tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo L tham gia tích cực phong trào giúp đỡ người khó khăn ở địa phương trong mùa dịch covid-19 năm 2021, có xác nhận và thư cảm ơn của Uỷ ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, đây được xem là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo T, Q, N, T lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, quy mô tổ chức đánh bạc không lớn nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo.

Đối với T và L là người chủ mưu, cầm đầu, T tiếp tổ chức địa điểm, chuẩn bị dụng cụ, lôi kéo người khác tổ chức đá gà được thua bằng tiền nên phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn các bị cáo khác và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gia để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với các bị cáo A, T, K, C, B, N giữ vai trò khác nhau, giúp sức cho T và L tổ chức đá gà nhưng mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là ngang nhau nên cần xử phạt các bị cáo mức án bằng nhau.

Xét về nhân thân của các bị cáo thì thấy rằng các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của địa phương, nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, tình hình an ninh ở địa phương. Riêng bị cáo A và T từng bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, T từng bị xử phạt tiền về tội Đánh bạc nhưng đã chấp hành xong và đã được xoá án tích, A và T không giữ vai trò tích cực, chủ chốt trong vụ án nên cũng đủ điều kiện được xem xét hưởng án treo theo Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

Đối với bị cáo T, Q, N, T là người tham gia cá cược với số tiền nhỏ, đồng thời các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có tài sản đảm bảo việc thi hành án nên áp dụng hình phạt tiền với các bị cáo cũng đủ sức cảnh tỉnh, răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi xem xét hình phạt, do T đánh bạc với số tiền cao hơn các bị cáo Q, N, T nên mức xử phạt đối với T phải cao hơn đối với Q, N, T.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng dân sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Về tiền thu giữ:

Số tiền 430.000 đồng thu tại hiện trường, là tiền trọng tài thu của các con bạc, là tiền dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

Số tiền 24.700.000 đồng tịch thu của T, trong đó có 9.750.000 đồng là tiền dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 9.750.000 đồng, còn 14.950.000 đồng cần trả lại cho bị cáo.

Số tiền 1.920.000 đồng thu giữ của T, 23.700.000 đồng thu của L, 2.200.000 đồng thu giữ của Nhung, 9.700.000 đồng thu giữ của Q, 5.200.000 đồng thu giữ của T, 4.000.000 đồng thu giữ của KhAh, 12.330.000 đồng thu giữ của C, 2.250.000 thu giữ của N xác định được không phải dùng vào việc đánh bạc nên cần trả lại cho các bị cáo.

Đối với 01 xe mô tô Wave, nhãn hiệu Honlei, màu xAh, biển số 70K-4382, số khung *VVNPCH00415111320*, số máy *SM000836*, đã qua sử dụng, được thu giữ tại hiện trường nhưng không xác định được chủ sở hữu, không phải là vật chứng trong vụ án. Ngày 05-11-2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày 05-11-2022 mà chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp chiếc xe này có yêu cầu thì sẽ xem xét giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự; nếu hết thời hạn trên vẫn không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tài sản sẽ được sung vào Ngân sách Nhà nước.

01 cân đồng hồ hiệu Nhơn Hòa, loại 05 kg, đã qua sử dụng; 02 giỏ xách để đựng gà; 18 cuộn băng keo màu cam và các loại hung khí là vật liên quA đến tội phạm nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 điện thoại Iphone màu đen của L và 01 điện thoại Iphone màu trắng của T, 01 điện thoại Iphone màu đen của T được sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

01 điện thoại Iphone màu trắng của T không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo.

01 điện thoại OPPO màu xAh của N không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo.

Về lệnh kê biên tài sản: Huỷ bỏ Lệnh kê biên tài sản đối với Nguyễn Văn C, Phan Văn L. Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản đối với Huỳnh Hữu T đến khi T thi hành án xong.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu mỗi người 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c, đ khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phan Văn L, Võ Quốc A, Kiều Công T, Trần Văn K, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Thị N phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Huỳnh Hữu T, Ngô Thanh Q, Nguyễn Hoài N, Nguyễn Trung T phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

1.1. Căn cứ vào điểm a, c, đ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26-7-2022.

1.2. Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26-7-2022.

1.3. Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Quốc A 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

1.4. Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Kiều Công T 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

1.5. Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn K 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

1.6. Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

1.7. Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn ThAh B 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

1.8. Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo A, T, K, C, Nhung cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo B cho Uỷ ban nhân dân Phường M, thành phố T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

1.9. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu T 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

1.10. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Thanh Q 10.000.000 (mười triệu) đồng.

1.11. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N 10.000.000 (mười triệu) đồng.

1.12. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 10.000.000 (mười triệu) đồng.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự;

2.1. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước:

- 10.180.000 (mười triệu một trăm tám mươi nghìn) đồng.

- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu trắng, số IMEI: 355681072764887, đã qua sử dụng.

- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu đen, số IMEI: 357298098256588, đã qua sử dụng.

- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu đen, số IMEI: 353916106873599, đã qua sử dụng.

2.2. Trả lại cho các bị cáo:

- Trả lại cho Nguyễn Thanh T 1.920.000 (một triệu chín trăm hai mươi nghìn) đồng; Phan Văn L 23.700.000 (hai mươi ba triệu bảy trăm nghìn) đồng; Trần Văn K 4.000.000 (bốn triệu) đồng; Nguyễn Văn C 12.330.000 (mười hai triệu, ba trăm ba mươi nghìn) đồng; Nguyễn Thị N 2.200.000 (hai triệu hai trăm nghìn) đồng; Huỳnh Hữu T 14.950.000 (mười bốn triệu chín trăm năm mươi nghìn) đồng Ngô Thanh Q 9.700.000 (chín triệu bảy trăm nghìn) đồng; Nguyễn Trung T 5.200.000 (năm triệu hai trăm nghìn) đồng; Nguyễn Hoài N 2.250.000 (hai triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng.

- Trả lại cho Huỳnh Hữu T 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu trắng, số IMEI: 353869224333238, đã qua sử dụng.

- Trả lại cho Nguyễn Thị N 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu xanh, sô IMEI: 868311057190078, đã qua sử dụng.

- Trả lại cho Nguyễn ThAh T 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh T, số: 072081001364.

2.3. Tịch thu tiêu hủy:

- 01 cân đồng hồ hiệu Nhơn Hòa, loại 05 kg, đã qua sử dụng;

- 02 giỏ xách để đựng gà;

- 18 cuộn băng keo màu cam;

- 01 cây dao tự chế có chiều dài 116 cm, cán bằng gỗ dài 84 cm, lưỡi kim loại dài 32 cm;

- 01 cây dao tự chế có chiều dài 123 cm, cán bằng gỗ dài 91 cm, lưỡi kim loại dài 32 cm;

- 01 cây dao tự chế có chiều dài 115 cm, cán bằng gỗ dài 87 cm, lưỡi kim loại dài 28 cm;

- 01 cây dao tự chế có chiều dài 130 cm, cán bằng gỗ dài 90 cm, lưỡi kim loại dài 40 cm;

- 01 cây dao tự chế có chiều dài 120 cm, cán bằng gỗ dài 88 cm, lưỡi kim loại dài 32 cm;

- 02 cây dao tự chế có chiều dài 123 cm, cán bằng gỗ dài 85 cm, lưỡi kim loại dài 38 cm;

- 01 cây dao tự chế có chiều dài 133 cm, cán bằng gỗ dài 97 cm, lưỡi kim loại dài 36 cm;

- 01 cây dao tự chế có chiều dài 125 cm, cán bằng gỗ dài 87 cm, lưỡi kim loại dài 38 cm;

- 02 ống bằng kim loại hình trụ dài màu đen (loại gậy bóng chày) có chiều dài 69 cm, 01 đầu lớn đường kính 05cm;

- 01 cây dao tự chế có chiều dài 140 cm, cán bằng ống kim loại dài 99 cm, lưỡi kim loại dài 41 cm;

2.4. Đối với chiếc xe biển số 70K-4832:

Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày 05-11-2022, chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp chiếc xe mô tô Wave, nhãn hiệu Honlei, màu xanh, biển số 70K-4382, số khung *VVNPCH00415111320*, số máy *SM000836*, đã qua sử dụng có yêu cầu thì sẽ xem xét giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

Nếu hết thời hạn trên vẫn không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì chiếc xe mô tô Wave, nhãn hiệu Honlei, màu xanh, biển số 70K-4382, số khung *VVNPCH00415111320*, số máy *SM000836*, đã qua sử dụng sẽ được sung vào Ngân sách Nhà nước.

3. Về Lệnh kê biên tài sản:

Huỷ bỏ Lệnh kê biên tài sản số: 20/LKB-CSĐT ngày 21-11-2022 đối với quyền sử dụng đất ở tại ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh của Nguyễn Văn C.

Hủy bỏ Lệnh kê biên tài sản số: 21/LKB-CSĐT ngày 21-11-2022 đối với quyền sử dụng đất ở tại ấp TH, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh của Phan Văn L.

Lệnh kê biên tài sản số: 22/LKB-CSĐT ngày 21-11-2022 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C tiếp tục có hiệu lực pháp luật cho đến khi bị cáo Huỳnh Hữu T thi hành xong các khoản tiền của bản án này theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ