- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: Bị cáo Mai Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2020/HSST Ngày 28/4/2020 |
NNHHÂÂNN DDAANNHH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Cạn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Triệu Quốc Việt.
2. Bà Nguyễn Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mạc Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Đậu Xuân Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2020/TLST - HS ngày 20 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Thanh T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 27/9/1996.
Nơi cư trú: ĐKHKT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa( học vấn) : lớp 09/12; dân tô ̣c: Tày; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mai Ngọc H và bà: Dương Thị C; vợ và con: chưa có.
Tiền án: Không (Tuy nhiên; Tại bản án hình sự sơ thẩm số 48/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; hiện nay được thi hành án theo Quyết định thi hành án phạt tù cho hưởng án treo số: 17/2019/QĐ-CA ngày 30/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn).
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/12/2019 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Bà Dương Thị C, sinh ngày 12/8/1973 - Có mặt tại phiên tòa.
Nơi cư trú: ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
+ Chị Ma Thị D, sinh ngày 24/3/2008 - Vắng mặt tại phiên tòa.
Người đại diện cho chị Ma Thị D: Bà Dương Thị C - Có mặt tại phiên tòa.
Nơi cư trú: ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Bả, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
- Người làm chứng: Anh Ma Văn H, sinh ngày 20/3/1989 - Vắng mặt tại phiên tòa.
Nơi cư trú: ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Hiện nay Ma Văn H đang chấp hành án tại Trại giam P, Cục C, Bộ Công an.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tố tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 30 phút ngày 10/12/2019, tại khu vực thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện C đang làm nhiệm vụ đã phát hiện và bắt quả tang Mai Thanh T, đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời điểm bắt quả tang thì Mai Thanh T đang ngồi sau xe mô tô biển kiểm soát 97B1-365.40 do Ma Văn H điều khiển.
Tang vật chứng thu giữ của Mai Thanh T bao gồm: 01 gói nilon màu hồng bên trong có 01 gói chất bột màu trắng được gói bởi loại giấy có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng tại túi áo khoác bên trái T đang mặc trên người (niêm phong trong phong bì ký hiệu T1); 01 (một) chiếc điện thoại di động đỏ đen, nhãn hiệu Masstel, bàn phím bằng nhựa màu đen bên trong có gắn 01 thẻ sim Viettel tại túi quần đằng trước bên trái của Mai Thanh T đang mặc trên người (niêm phong trong phong bì ký hiệu T2) và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave alpha màu đen biển kiểm soát 97B1-365.40.
Đối với Ma Văn H không thu giữ, tạm giữ đồ vật tài liệu gì.
Hồi 10 giờ 15 phút ngày 11/12/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, công trình phụ cận đối với Mai Thanh T ở thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Qua khám xét không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Tại biên bản mở niêm phong và cân xác định khối lượng hồi 21 giờ 30 phút ngày 10/12/2019 xác định: Phong bì niêm phong ký hiệu T1, bên trong có 01 gói nilon màu hồng bên trong có 01 gói chất bột màu trắng được gói bởi loại giấy có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng. Cân riêng số chất bột màu trắng có khối lượng 0,24g (không phẩy hai bốn gam), niêm phong trong 01 phong bì mới gửi giám định ký hiệu H1.
Tại Kết luận giám định số 160/KTHS-MT ngày 13/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận “mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu H1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,24g (không phẩy hai bốn gam)”.
Quá trình điều tra, truy tố Mai Thanh T khai nhận: 01 (một) gói ma túy mà Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang là ma túy Heroine do T mua về để sử dụng cá nhân. Cụ thể, khoảng 15 giờ ngày 10/12/2019, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1-365.40 mượn của mẹ đẻ là bà Dương Thị C từ nhà mình đi đến nhà Ma Văn H rồi rủ H tìm mua ma túy về sử dụng, được H đồng ý. Sau đó T điều khiển xe chở H đến chợ xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì T dừng xe lại và đưa cho H 20.000đ (hai mươi nghìn đồng) để H đi vào khu vực chợ xã B mua xi lanh và nước cất để phục vụ việc sử dụng ma túy. Rồi T tiếp tục điều khiển xe chở H đến khu vực ngã ba xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy Heroine về sử dụng. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, tại khu vực ngã ba xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì H đi bộ vào trong một ngõ vắng để mua ma túy với 01 người đàn ông khoảng 50 tuổi (không rõ tên tuổi, địa chỉ). H mua số lượng ma túy, số tiền bao nhiêu thì T không biết vì lúc đó T đang đứng ở ngoài xe cách chỗ ngõ H vào mua ma túy khoảng 100m (một trăm mét). Sau khi H mua xong quay ra thì T đi vào ngõ và mua 01 (một) gói ma túy với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) với người đàn ông bán ma túy cho H. Mua được ma túy xong, H điều khiển xe chở T đi về nhà. Khi đi được một đoạn thì H dừng xe, cả hai đi bộ vào khu vực đồi keo cạnh đường để sử dụng ma túy. Tại đây, thì H lấy ma túy của H mua được pha vào xi lanh để sử dụng và T cũng lấy gói ma túy mình mua được ra và lấy xi lanh ma túy H đang pha rồi cho một nửa gói ma túy của mình vào để pha chung vào xi lanh của H rồi đưa lại cho H, số ma túy còn lại T cất vào túi áo khoác bên trái T đang mặc. Sau khi H pha xong ma túy thì trích ra một nửa vào 01 xi lanh khác đưa lại T để cả hai cùng sử dụng riêng (thời điểm H pha ma túy của H và T lấy ma túy của mình pha vào xi lanh ma túy H đang pha thì T và H ngồi quay lưng lại với nhau nên không nhìn thấy H pha ma túy của H như thế nào và H có nhìn thấy T cho ma túy của T vào pha và cất số ma túy còn lại thì T không biết). Sử dụng ma túy xong, H tiếp tục điều khiển xe máy chở T đi về nhà. Quá trình mua và trên đường về thì T và H không trao đổi gì với nhau về việc mua bao nhiêu ma túy, T còn ma túy trong người hay không. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày khi cả hai đi đến khu vực thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị Tổ công tác điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện C bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy còn lại của T đang tàng trữ trên người.
Tại bản cáo trạng số: 07/CT-VKSCĐ ngày 20/3/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Mai Thanh T về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Mai Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Mai Thanh T từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 5 Điều 65, Điều 56 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số: 02/2018-HĐTP-TANDTC ngày 15/5/2018 để tổng hợp với bản án hình sự sơ thẩm số 48/2019/HSST ngày 27/11/2019 Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 09 ( chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thử thách 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với đối với 01 (một) phong bì đã được niêm phong kín ký hiệu T160 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, sau khi giám định hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn trên mặt niêm phong của phong bì có 02 (hai) hình dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn và 04 (bốn) chữ ký không đọc được (bên trong phong bì có chứa 0,21g ma túy Hêrôine cùng giấy gói cũ, 01 vỏ phong bì ký hiệu H1) và 01 (một) phong bì đã được niêm phong kín ký hiệu H2, trên mặt niêm phong của phong bì có 03 (ba) hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện C, 01 (một) dòng chữ “Ma Văn H”, 01 (một) dòng chữ “Mai Thanh T”, 01 (một) dòng chữ “Vy Hiệp T”, 01 (một) dòng chữ “Nguyễn Viết H”, 01 (một) chữ ký “T” và 04 (bốn) chữ ký không đọc được (bên trong phong bì có chứa 01 vỏ phong bì ky hiệu T1, nilon màu hồng và giấy gói ban đầu)
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm theo quy định.
Ý kiến của bị cáo Mai Thanh T tại phiên tòa: Bị cáo T không có ý kiến tranh luận.
Ý kiến của bà Dương Thị C: Không có ý kiến tranh luận
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo một mình thực hiện hành vi phạm tội bị cáo biết tàng trữ trái phép chất ma túy là sai là vi phạm pháp luật nên bị cáo tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất. Việc tổng hợp bản án trước (Bản án cho hưởng treo) bị cáo không có ý kiến. Đối với Ma Văn H không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Đồn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Ma Thị D, vắng mặt người làm chứng Ma Văn H bị cáo không đề nghị hoãn phiên tòa, Kiểm sát có ý kiến việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Mai Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng.
Khoảng 15 giờ ngày 10/12/2019, Mai Thanh T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1-365.40 đến rủ Ma Văn H đi mua ma túy Heroine về sử dụng và được H đồng ý. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày tại khu vực ngã ba xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Mai Thanh T có hành vi mua trái phép 01 gói nhỏ ma túy Heroine với số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và Ma Văn H có hành vi mua trái phép 01 gói nhỏ ma túy Heroine với số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) với một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ với mục đích sử dụng cho cá nhân. Sau khi mua được trên đường về H đã sử dụng hết gói ma túy mua được, còn T đã sử dụng 01 phần ma túy mua được, số ma túy còn lại 0,24g (không phẩy hai bốn gam) T cất giữ tại túi áo khoác bên trái đang mặc trên người rồi được H điều khiển xe chở T đi về nhà (quá trình mua, sử dụng và trên đường về H không biết T mua được bao nhiêu ma túy và không biết việc T còn tàng trữ ma túy trên người sau khi đã sử dụng). Tại phiên tòa T vẫn giữ lời khai giữa T và H đều nghiện nên không bàn bạc với nhau việc mua, việc sử dụng ma túy và T khẳng định H không biết việc T tàng trữ trái phép chất ma túy, đến khi T bị bắt quả tang thì H mới biết T có ma túy trên người T. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày khi đi đến khu vực thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C phát hiện, bắt quả tang thu toàn bộ số ma túy của T đang tàng trữ. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, phù hợp lời khai người làm chứng, vật chứng, kết luận giám định
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung như sau:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ….;
b) ….;
c) Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
. Xét nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Tuy, bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng nghiện ma túy và ngày 27/11/2019 bị xét xử về tội trộm cắp tài sản.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đến thời điểm truy tố, xét xử bị cáo đang chấp hành bản án cho hưởng án treo của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, tuy nhiên do hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 10/12/2019 bản án trước đó chưa có hiệu lực pháp luật nên bị cáo Mai Thanh T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bà nội là Dương Thị H được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng, quan điểm của Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật. Mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù là nằm trong khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố là phù hợp.
[ 5]. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy trước lần phạm tội này bị cáo đã bị xét xử về tội trộm cắp tài sản xử phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/11/2019. Ngày 10/12/2019 bị cáo tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là phạm tội trong thời gian thử thách, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật cần áp dụng mức hình phạt tù để bị cáo tập trung cải tạo một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe giáo dục phòng ngừa chung cho xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập, nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì không có tính khả thi cho việc thi hành án dân sự.
. Về vật chứng: đối với 01 (một) phong bì đã được niêm phong kín ký hiệu T160 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, sau khi giám định hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn trên mặt niêm phong của phong bì có 02 (hai) hình dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn và 04 (bốn) chữ ký không đọc được (bên trong phong bì có chứa 0,21g ma túy Hêrôine cùng giấy gói cũ, 01 vỏ phong bì ký hiệu H1) và 01 (một) phong bì đã được niêm phong kín ký hiệu H2, trên mặt niêm phong của phong bì có 03 (ba) hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn, 01 (một) dòng chữ “Ma Văn H”, 01 (một) dòng chữ “Mai Thanh T”, 01 (một) dòng chữ “Vy Hiệp T”, 01 (một) dòng chữ “Nguyễn Viết H”, 01 (một) chữ ký “T” và 04 (bốn) chữ ký không đọc được (bên trong phong bì có chứa 01 vỏ phong bì ky hiệu T1, nilon màu hồng và giấy gói ban đầu) xét thấy không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động đỏ đen, nhãn hiệu Masstel, bàn phím bằng nhựa màu đen bên trong có gắn 01 thẻ sim Viettel và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave alpha màu đen biển kiểm soát 97B1-365.40. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại là do Mai Thanh T mượn của em họ mình là Ma Thị D để liên lạc cá nhân và chiếc xe là thuộc sở hữu của bà Dương Thị C. Ngày 10/12/2019 khi cho T lấy xe đi thì bà C không biết T sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy sử dụng cá nhân. Quá trình điều tra bà C có đơn xin lại tài sản đối với chiếc xe của mình và chiếc điện thoại cho Ma Thị D. Xét thấy không liên quan đến vụ án nên ngày 27/02/2020 Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại chiếc xe trên cho bà C và chiếc điện thoại cho Ma Thị D là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Đối với Ma Văn H là người cùng đi mua ma túy Heroine và sau đó sử dụng với Mai Thanh T rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1-365.40 chở T tại thời điểm bị bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định H và T đều là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 10/12/2019 cả hai cùng nhau đi mua ma túy để sử dụng cho riêng cá nhân mình. H đã mua 01 gói nhỏ ma túy với số tiền 150.000đ và sau đó đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng ma túy H đã mua. Hành vi mua ma túy của H là do hai cá nhân tự thực hiện độc lập với nhau, H không biết T mua số lượng ma túy là bao nhiêu, khi sử dụng ma túy thì T tự cho số ma túy của T mua được vào xi lanh ma túy của H đang pha để sau đó chia nhau ra sử dụng thì H không biết, không nhìn thấy T cho ma túy của T vào bao nhiêu và còn cất giữ số ma túy còn lại của T trên người hay không. Chỉ đến khi bị bắt quả tang thì H mới biết T đang còn ma túy trên người và bị cơ quan Công an huyện Chợ Đồn thu giữ. Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xem xét, xử lý đối với H là đúng theo quy định của pháp luật.
. Đối với người đàn ông khoảng 50 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) theo lời khai của Mai Thanh T và Ma Văn H là người đã bán ma túy cho T và H tại khu vực ngã ba xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 10/12/2019. Kết thúc điều tra Mai Thanh T, Ma Văn H không cung cấp được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.
. Đối với bà Dương Thị C là người có hành vi cho Mai Thanh T mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97B1-365.40 vào ngày 10/12/2019. Tuy nhiên quá trình điều tra xác định bà C không biết việc Mai Thanh T mượn và sử dụng xe vào việc đi mua ma túy để sử dụng cá nhân. Nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà C là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố: Bị cáo Mai Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
[2]. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Mai Thanh T 18 ( Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Buộc Mai Thanh T chấp hình phạt của bản án số 48/2019/HSST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Trộm cắp tài sản". Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt. Buộc bị cáo Mai Thanh T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là: 27 (Hai mươi bảy) tháng tù được trừ thời gian tạm giữ của bản trước là 09 ngày kể từ (02/9/2019 đến 11/9/2019). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt 10/12/2019.
[3]. Về vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) phong bì đã được niêm phong kín ký hiệu T160 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, sau khi giám định hoàn trả lại cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn trên mặt niêm phong của phong bì có 02 (hai) hình dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn và 04 (bốn) chữ ký không đọc được (bên trong phong bì có chứa 0,21g ma túy Hêrôine cùng giấy gói cũ, 01 vỏ phong bì ký hiệu H1) và 01 (một) phong bì đã được niêm phong kín ký hiệu H2, trên mặt niêm phong của phong bì có 03 (ba) hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện Chợ Đồn, 01 (một) dòng chữ “Ma Văn H”, 01 (một) dòng chữ “Mai Thanh T”, 01 (một) dòng chữ “Vy Hiệp T”, 01 (một) dòng chữ “Nguyễn Viết H”, 01 (một) chữ ký “T” và 04 (bốn) chữ ký không đọc được (bên trong phong bì có chứa 01 vỏ phong bì ky hiệu T1, nilon màu hồng và giấy gói ban đầu)
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Chợ Đồn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn ngày 20 tháng 3 năm 2020)
[4]. Án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; và áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”
[5]. Xử án công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - Sở Tư pháp Bắc Kạn; - VKSND huyện Chợ Đồn; - Công an huyện Chợ Đồn; - THADS huyện Chợ Đồn; - Người tham gia TT; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Cạn |