vanban.org

Bản án 07/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Tr V T, sinh ngày 11/12/1987; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Tổ dân phố BS, Phường NS, tỉnh Thanh Hóa.

Thời gian chấp hành tại cơ sở giáo dục bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày người phải chấp hành quyết định bị tạm giữ để đưa đi cơ sở giáo dục bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Biện pháp xử lý hành chính"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Tr V T, sinh ngày 11/12/1987; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Tổ dân phố BS, Phường NS, tỉnh Thanh Hóa.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh Pháp lệnh; Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/QĐ-TAThanh Hoá, ngày 31 tháng 7 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Huyền

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngân

Ngày 31 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 10/QĐ-TA ngày 28 tháng 7 năm 2026 đối với:

Họ và tên: Tr V T- Sinh ngày: 11/12/1987; Giới tính: Nam.

Số định danh cá nhân: 038087010161.

Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Tổ dân phố BS, Phường NS, tỉnh Thanh Hóa.

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 0/12; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn C, sinh năm 1953 và bà Trần Thị H, sinh năm 1954. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tình trạng hôn nhân: Chưa có vợ.

Tiền án: Không.

Tiền sự:

- Ngày 17/01/2026, bị Trưởng Công an Phường NS xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình.

- Ngày 23/02/2026, bị Trưởng Công an Phường NS xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình.

- Ngày 13/05/2026, bị Trưởng Công an Phường NS xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình.

- Ngày 20/05/2026, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu trong thời hạn 03 tháng.

Vắng mặt tại phiên họp (có đơn xin vắng mặt).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện người đề nghị: Ông Trương Văn Tuân - Cán bộ thuộc công an Phường NS (Đại diện theo uỷ quyền của Trưởng công an Phường NS theo Văn bản uỷ quyền số 180/VBUQ-CANS ngày 30/7/2026)

2. Đại diện Viện kiểm sát: Ông Lê Ngọc Trung - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa.

NHẬN THẤY:

Theo tài liệu có trong hồ sơ, người bị đề nghị Tr V Tcó quá trình vi phạm pháp luật và bị xử lý như sau:

Ngày 17/01/2026, tại tổ dân phố B, Phường NS (nay là tổ dân phố BS, Phường NS), sau khi uống rượu, Tr V Tđã chửi bới, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bố đẻ là ông Trần Văn Cử. Cùng ngày, Trưởng Công an Phường NS ban hành Quyết định số 18/QĐ-XPHC, xử phạt Tuấn 7.500.000 đồng theo khoản 1 Điều 39 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP.

Ngày 23/02/2026, tại địa điểm trên, Tr V Ttiếp tục chửi bới, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của ông Trần Văn Cử. Trưởng Công an Phường NS ban hành Quyết định số 23/QĐ-XPHC, xử phạt Tuấn 7.500.000 đồng theo khoản 1 Điều 39 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP.

Ngày 13/05/2026, Tr V Ttiếp tục thực hiện hành vi nêu trên và bị Trưởng Công an Phường NS ban hành Quyết định số 36/QĐ-XPHC, xử phạt 7.500.000 đồng. Ngày 20/05/2026, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường NS ban hành Quyết định số 495/QĐ-XPĐK áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu đối với Tuấn trong thời hạn 03 tháng, từ ngày 20/05/2026 đến ngày 20/08/2026.

Trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu, ngày 21/07/2026, tại tổ dân phố BS, Phường NS, Tr V Ttiếp tục xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình. Ngày 24/07/2026, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường NS ban hành Quyết định số 717/QĐ-CĐXPĐK chấm dứt việc thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu đối với Tuấn để lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

Ngày 24/07/2026, Trưởng Công an Phường NS có Đề nghị số 292/ĐN-CANS đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Tr V Tvào cơ sở giáo dục bắt buộc trong thời hạn 12 tháng.

Tại phiên họp:

Người đề nghị giữ nguyên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Tr V Tvào cơ sở giáo dục bắt buộc trong thời hạn 12 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa phát biểu việc Tòa án thụ lý và tiến hành phiên họp đúng quy định; hồ sơ đề nghị có căn cứ, đúng đối tượng và đề nghị chấp nhận đề nghị của Trưởng Công an Phường NS.

XÉT THẤY:

Về tố tụng: Ngày 24/07/2026, Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa thụ lý hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Tr V T. Tòa án đã thông báo thụ lý, ban hành quyết định mở phiên họp và tống đạt hợp lệ. Tr V Tcó đơn xin vắng mặt nên Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt người bị đề nghị theo khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, đã được sửa đổi, bổ sung.

Về thẩm quyền: Trưởng Công an Phường NS là người lập hồ sơ đề nghị và có trụ sở trong phạm vi địa hạt tư pháp của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa. Do đó, vụ việc thuộc thẩm quyền xem xét, quyết định của Tòa án theo khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, đã được sửa đổi, bổ sung.

Về thời hiệu: Hành vi vi phạm gần nhất của Tr V Txảy ra ngày 21/07/2026; hồ sơ được chuyển đến Tòa án ngày 24/07/2026, còn trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo điểm c khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về nội dung:

- Về tính hợp pháp của hồ sơ: Hồ sơ do Trưởng Công an Phường NS lập, được kiểm tra và chuyển cho Tòa án, có các tài liệu về hành vi vi phạm, quyết định xử phạt, quyết định áp dụng và chấm dứt biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu, bản tường trình, tài liệu nhân thân và văn bản đề nghị; bảo đảm quy định tại các điều 101 và 102 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

- Về tính chất, mức độ và nhân thân: Trong thời gian ngắn, Tr V T ba lần bị xử phạt về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình. Sau khi bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu, Tuấn không tiến bộ mà tiếp tục thực hiện hành vi cùng loại ngày 21/07/2026. Hành vi thể hiện ý thức coi thường pháp luật, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội và đời sống gia đình.

Tr V Tlà người từ đủ 18 tuổi trở lên, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu do thực hiện hành vi quy định tại khoản 6 Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính, nhưng trong thời gian chấp hành lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm mà không phải là tội phạm. Tuấn không thuộc trường hợp không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

Vì vậy, cần áp dụng biện pháp đưa Tr V T vào cơ sở giáo dục bắt buộc để được quản lý, lao động, học văn hóa, học nghề và rèn luyện dưới sự quản lý của cơ sở. Thời hạn 12 tháng theo đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi, nhân thân và quá trình chấp hành của Tuấn.

Tại phiên họp, ý kiến của người đề nghị và đại diện Viện kiểm sát đều có căn cứ, phù hợp với tài liệu trong hồ sơ nên được chấp nhận.

Căn cứ các điều 90, 93, điểm b khoản 1 Điều 94, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; các điều 3, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 30, 31 và 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 và Pháp lệnh Pháp lệnh số 02/2026/UBTVQH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Tr V T, sinh ngày 11/12/1987; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Tổ dân phố BS, Phường NS, tỉnh Thanh Hóa. Nơi chấp hành: Cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà, xã Bình Xuyên, tỉnh Phú Thọ.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở giáo dục bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày người phải chấp hành quyết định bị tạm giữ để đưa đi cơ sở giáo dục bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

- Tr V Tcó quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.

- Trưởng Công an Phường NS có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Hiệu lực của Quyết định: Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định này, Công an Phường NS có trách nhiệm đưa Tr V Tvào Cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà để chấp hành quyết định.

Cỡ chữ