- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng QT - Anh Nguyễn Tất T và chị Nguyễn Thị Thu B"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị Thu B.
- Căn cứ chính? Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 290 Bộ luật Dân sự; Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 05/2017/KDTM-PT Ngày 12 - 9 - 2017 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hà.
Các Thẩm phán:
Ông Đỗ Mạ nh Tăng.
Bà Nguyễn Thị Phương Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình: Bà Bùi Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 07 và 12 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2017/TLPT-KDTM ngày 29 tháng 6 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2017/KDTM-ST ngày 16 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 36/2017/QĐPT-KDTM ngày 17 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng QT.
Địa chỉ: số A, phố B, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V - chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thu H - chức vụ: Giám đốc Trung tâm Quản lý nợ khách hàng cá nhân, khối quản trị rủi ro Ngân hàng QT (Theo văn bản ủy quyền số 3.0141.17 ngày 16/01/2017 của Tổng Giám đốc Ngân hàng QT).
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Trung H - chức vụ: Cán bộ phòng xử lý nợ - Ngân hàng QT. (Theo giấy ủy quyền số 3.1143.17 ngày 09.5.2017 của bà Trần Thị Thu H; có mặt).
- Bị đơn: + Anh Nguyễn Tất T - sinh năm 1979 (vắng mặt).
+ Chị Nguyễn Thị Thu B - sinh năm 1984 (có mặt).
Địa chỉ: đường LB, tổ A, phường Q, thành phố TB, tỉnh Thái Bình.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Ph - sinh năm 1948.
Địa chỉ: đường LB, tổ A, phường Q, thành phố TB, tỉnh Thái Bình.
(vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Phúc Kh - sinh năm 1950.
Địa chỉ: tổ A, phường B, thành phố TB, tỉnh Thái Bình (có mặt).
- Người kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thu B - sinh năm 1984.
Địa chỉ: đường LB, tổ A, phường Q, thành phố TB, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Nguyên đơn là Ngân hàng QT trình bày và có yêu cầu khởi kiện như sau: Anh Nguyễn Tất T có Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh do Phòng Tài chính thành phố Thái Bình cấp ngày 20/5/2010. Ngày 29/8/2012, anh Nguyễn Tất T và vợ là chị Nguyễn Thị Thu B vay vốn tại Ngân hàng QT Chi nhánh TB theo hợp đồng tín dụng số 341.1/HĐTD-VIB 44/12 với số tiền là 1.000.000.000 đồng và phụ lục hợp đồng tín dụng số 341.1.1/PLHĐ-VIB 44/12 ngày 31/01/2013. Mục đích vay bổ sung vốn lưu động kinh doanh chất đốt. Theo hợp đồng tín dụng thì lãi suất áp dụng tại từng thời điểm giải ngân. Nếu bên vay không trả nợ đúng hạn và không được Ngân hàng QT đồng ý cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ, thì phải thanh toán ngay toàn bộ số nợ còn lại theo lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay.
Ngân hàng QT Chi nhánh TB đã giải ngân cho anh T và chị B theo 02 khế ước nhận nợ:
+ Khế ước nhận nợ số 341.1.7/KUNN7 ngày 26/8/2013; số tiền nhận nợ là 500.000.000 đồng; thời hạn vay 06 tháng kể từ ngày 26/8/2013; lãi suất cho vay bằng 11,99%/năm trong 06 tháng; phương thức trả nợ: Trả tiền gốc cuối kỳ, trả tiền lãi vào ngày 12 hàng tháng.
+ Khế ước nhận nợ số 341.1.8/KUNN7 ngày 29/8/2013; số tiền nhận nợ là 500.000.000 đồng; thời hạn vay 06 tháng kể từ ngày 29/8/2013; lãi suất cho vay bằng 13,49%/năm, điều chỉnh 03 tháng/lần. Lãi suất điều chỉnh bằng lãi suất cho vay của cá nhân kinh doanh do Ngân hàng QT công bố tại thời điểm điều chỉnh, phù hợp với quy định của pháp luật, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và chính sách của Ngân hàng QT tại từng thời kỳ; Phương thức trả nợ: Trả tiền gốc cuối kỳ, trả tiền lãi vào ngày 12 hàng tháng.
Biện pháp bảo đảm tiền vay: Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 60, tờ bản đồ số 04, thuộc đường LB, tổ A, phường Q, thành phố TB, tỉnh Thái Bình; Diện tích thửa đất 70 m2 và nhà mái bằng 02 tầng diện tích xây dựng 80 m2, toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 430283, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00101/QT-TPTB do Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình cấp ngày 25/11/2009 thuộc quyền sử dụng và sở hữu của bà Phạm Thị Ph. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 553/2011/BĐ ngày 26/8/2011 giữa bên thế chấp là bà Phạm Thị Ph, bên nhận thế chấp là Ngân hàng QT Chi nhánh TB để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho bên vay vốn là anh Nguyễn Tất T và chị Nguyễn Thị Thu B. Biên bản định giá tài sản thế chấp ngày 23/8/2011, tổng trị giá tài sản bảo đảm: 1.710.000.000 đồng Hợp đồng thế chấp quyến sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên đã được công chứng tại Văn phòng Công chứng Hưng Thịnh tỉnh Thái Bình, số công chứng 995/2011 quyển số 1 VPCCHT/HĐTC-VIB ngày 26/8/2011; Được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Thái Bình ngày 26/8/2011.
Do không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên khoản vay chuyển nợ quá hạn từ ngày 12/10/2013. Dư nợ của anh T và chị B tại Ngân hàng QT tạm tính đến ngày 16/5/2017 là:
Nợ gốc: 1.000.000.000 đồng;
Nợ lãi: 58.828.938 đồng;
Lãi phạt: 649.117.143 đồng
Thời hạn, hạn mức: 01 năm kể từ ngày 29/8/2012 đến 29/8/2013.
Vì vậy, Ngân hàng QT yêu cầu Tòa án giải quyết: - Buộc anh Nguyễn Tất T và chị Nguyễn Thị Thu B phải trả cho Ngân hàng QT số tiền tạm tính đến ngày 16/5/2017 là: 1.707.946.081 đồng. Trong đó, nợ gốc là 1.000.000.000 đồng, nợ lãi là 58.828.938 đồng, lãi quá hạn là 649.117.143 đồng;
- Trong trường hợp anh Nguyễn Tất T và chị Nguyễn Thị Thu B không thanh toán nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng đề nghị Tòa án xử phát mại tài sản thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 60, tờ bản đồ số 04, thuộc tổ 01, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; Diện tích thửa đất 70 m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 430283, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00101/QT - Thành phố Thái Bình do Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình cấp ngày 25/11/2009 mang tên bà Phạm Thị Ph để trả nợ cho Ngân hàng QT.
- Bị đơn là chị Nguyễn Thị Thu B trình bày: Ngày 29/8/2012, vợ chồng chị B và anh T làm thủ tục thế chấp nhà đất của bà Phạm Thị Ph là mẹ anh T để vay tiền tại Ngân hàng QT Chi nhánh TB. Ngân hàng QT Chi nhánh TB đã giải ngân nhiều lần với số tiền là 01 tỷ đồng, anh T là người nhận tiền. Sau khi vay tiền, anh T mở công ty nhưng do làm ăn thua lỗ, nên vợ chồng chị B chưa trả được khoản tiền nợ gốc và lãi nào cho Ngân hàng QT Chi nhánh TB. Trước khi Ngân hàng QT khởi kiện tại Tòa án thì anh T đã không sinh sống tại gia đình, còn anh T sinh sống ở đâu thì chị B không biết. Chị B có nghe bạn bè nói anh T đi nước ngoài, nhưng cũng không biết có chính xác không và không rõ đi nước nào. Hiện nay, mẹ chồng chị B bị bệnh ung thư phải điều trị, bản thân chị B không có công việc, thu nhập ổn định, ngoài ra phải nuôi hai con ăn học. Nay Ngân hàng QT khởi kiện đòi nợ vợ chồng chị B số tiền gốc là 1.000.000.000 đồng, số tiền lãi trong từng thời điểm khác nhau, chị B đề nghị Ngân hàng QT gia hạn hợp đồng này thêm một thời gian nữa để thu xếp trả nợ cho Ngân hàng QT.
- Bị đơn là anh Nguyễn Tất T hiện không có mặt tại địa chỉ nơi cư trú, nên Tòa án không lấy được lời khai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Ph trình bày: Năm 2012 bà Ph cho con trai là Nguyễn Tất T và con dâu là Nguyễn Thị Thu B mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00101/QT-TPTB do Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình cấp ngày 25/11/2009, thuộc quyền sử dụng và sở hữu của bà Phạm Thị Ph tại tổ A, phường Q, thành phố TB để vay vốn tại Ngân hàng QT Chi nhánh TB làm ăn, số tiền vay là 1.000.000.000 đồng. Trong quá trình làm ăn và thành lập công ty, anh T đã làm ăn thua lỗ không có điều kiện trả nợ cho Ngân hàng QT Chi nhánh TB, bà Ph đã làm thủ tục bán nhà đất nói trên nhưng chưa bán được. Hiện tại, anh T đang đi lao động ở nước ngoài, không có mặt tại địa phương, không được biết tin tức gì về việc Ngân hàng yêu cầu trả nợ. Nay Ngân hàng QT khởi kiện vợ chồng anh T và chị B, trách nhiệm trả nợ là của anh T và chị B. Bà Ph không đồng ý phát mại tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mang tên bà Ph, vì hiện tại bà Ph không có chỗ ở nào khác.
Tại bản án sơ thẩm số 01/2017/KDTM-ST ngày 16/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình đã quyết định như sau:
Áp dụng các điều: Điều 30, 35, 39, 227, 228, 233, 266, 271, 273 của Bộ luật tụng Dân sự; Các Điều 290, 318, 319, 322, 323, 342, 343, 355, 388, 389, 401, 402, 405, 408, 715, 716, 717, 718, 720, 721 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 3, Điều 91 Luật tổ chức tín dụng; Điều 4, Điều 56, Điều 58, Điều 65, Điều 68 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ về giao dịch bảo đảm. Điều 24, Điều 27 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng QT: Buộc anh Nguyễn Tất T, sinh năm 1979 và chị Nguyễn Thị Thu B, sinh năm 1984; địa chỉ: đường L, tổ A, phường Q, thành phố TB, tỉnh Thái Bình trả nợ cho Ngân hàng QT các khoản nợ tính đến ngày 16/5/2017 như sau:
Tiền nợ gốc: 1.000.000.000 đồng;
Tiền nợ lãi trong hạn: 58.828.938 đồng;
Lãi quá hạn: 649.117.143 đồng.
Tổng số tiền phải trả tính đến ngày 16/5/2017 là 1.707.946.081 đồng
Bên phải thi hành án tiếp tục chịu khoản tiền lãi kể từ sau ngày 16/5/2017
đối với khoản nợ gốc cho đến khi thanh toán xong, theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng.
2. Khi bản án có hiệu lực pháp luật mà anh T, chị B không trả được nợ cho Ngân hàng QT thì Ngân hàng QT có quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại “thửa đất số 60, tờ bản đồ 04 thuộc tổ A, phường Q, thành phố TB, tỉnh Thái Bình; Diện tích thửa đất là 70 m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 430283, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00101/QT - thành phố Thái Bình”, do UBND thành phố Thái Bình cấp ngày 25/11/2009, thuộc quyền sử dụng và sở hữu của bà Phạm Thị Ph.
Khi phát mại tài sản thế chấp, giá trị của tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì Ngân hàng QT phải thanh toán số tiền chênh lệch đó cho anh T, chị B. Khi phát mại tài sản thế chấp vẫn chưa đủ trả nợ thì anh T, chị B phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng QT số nợ còn thiếu.
3. Về án phí: Trả lại Ngân hàng QT số tiền 25.260.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí (biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005623 ngày 21/8/2015) tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Bình. Anh Nguyễn Tất T và chị Nguyễn Thị Thu B phải chịu 63.238.382 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Ngày 05/6/2017, chị Nguyễn Thị Thu B làm đơn kháng cáo gửi đến Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình ngày 06/6/2017. Nội dung kháng cáo chị B kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 01/2017/KDTM-ST ngày 16/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình vì cho rằng bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử không đúng định của pháp luật. Ngày 07/7/2017, chị B đã có bản tự khai gửi Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình làm rõ yêu cầu kháng cáo theo đơn kháng cáo chị nộp tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình ngày 06/6/2017, trong đó có nội dung chị yêu cầu kháng cáo cụ thể như sau: Không chấp nhận phần quyết định của bản án sơ thẩm khi bản án có hiệu lực pháp luật, anh T, chị B không trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số nhà 486, tổ 1, phố Lý Bôn, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình mang tên bà Ph vì chị B cho rằng hiện tại bà Ph tuổi đã cao, đang bị bệnh ung thư, chị B hiện không có công việc ổn định, hai con chị còn nhỏ đang đi học và cùng sinh sống trên căn nhà này. Ngoài căn nhà này ra mẹ chồng chị và mẹ con chị không còn chỗ nào để sinh sống. Hơn nữa chị B cho rằng vợ chồng chị vay Ngân hàng thì vợ chồng chị tự trả, không thể phát mại nhà và đất của bà Ph. Chị B không đồng ý nộp số tiền 63.238.382 đồng án phí như án sơ thẩm đã tuyên và xin Tòa án cấp phúc thẩm miễn án phí cho vợ chồng chị vì những điều kiện khó khăn đã nêu ở trên.
- Chị Nguyễn Thị Thu B có văn bản trình bày về kháng cáo đề ngày
21/8/2017 gử i đế n Tò a á n ngà y 30/8/2017 đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại với các lý do sau đây:
+ Việ c Tò a á n nhân dân thà nh phố Thá i Bì nh buộ c chị B và anh T phả i trả số tiề n gồ m gố c và lã i hơn 1.700.000.000 đồ ng là chưa đả m bả o bở i anh T là ngườ i vay số tiề n trên chị B không biế t và chỉ ký và o trong hợ p đồ ng. Anh T vay tiề n là m gì chị Bình đều không biết, chị B chỉ biết cán bộ tín dụng đến nhà bảo chị B ký vào để hoàn tất thủ tục cho đảm bảo , mộ t số chữ ký trong hợ p đồ ng tí n dụ ng không phải chữ ký của chị B . Chị B cũng không biết Ngân hàng QT chi nhánh TB và Văn phòng công chứng Hưng Thịnh ở đâu , chị Bình cũng chưa đến văn phòng công chứ ng lầ n nà o . Vì theo quy định thì chị Bình phải có mặt tại
Văn phò ng công chứ ng để là m hợ p đồ ng tí n dụ ng . Việ c thẩ m đị nh và đá nh giá tài sản của bà Phương để là m hợ p đồ ng tí n dụ ng chưa đả m bả o vì ngoà i diệ n tí ch đấ t đã đượ c cấ p bìa đỏ còn có diện tích đất chưa có bìa đỏ hiện đang có tranh chấp với các hộ liền kề . Trên đấ t củ a bà Ph cò n có nhà mới xây do bố chị B là ông Nguyễn Phúc Kh cho vay tiề n để là m, số tiề n vay trên 1 tỷ đồng, hiệ n chị B không có tiề n để trả .
+ Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xác định chị B là bị đơn là không
đú ng quy đị nh củ a p háp luật, vì anh Th vay số tiền như thế nào chị B không được biế t và không đượ c cầ m số tiề n trên. Chị B chỉ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ á n . Khi anh Th không thự c hiệ n nghĩ a vụ trả n ợ thì phải kiện bà Ph phải thực hiện theo hợp đồng bảo lãnh vì bà Ph đã bảo lãnh và thế chấp quyền sử dụng đất của bà Ph. Vợ chồ ng chị B chỉ là ngườ i liên quan.
+ Tòa án cấp sơ thẩm không thẩm định tài sản là đất liên quan đến hợp đồ ng tín dụng là chưa bảo đảm vì đất đang có tranh chấp với các hộ liền kề , đất phía sau bà Ph đã bán cho 02 hộ dân liề n kề , tài sản trên đất đã xây dựng thêm rất nhiều và bà Ph đã cho thuê nhà đất trên 20 năm. Do đó cầ n thi ết phải thẩm định tài sản và đưa mộ t số ngườ i và o tham gia tố tụ ng thì mớ i đả m bả o và trá nh nhữ ng tranh chấ p phát sinh sau này.
+ Thự c tế anh Th đã đi đâu , làm gì bản thân chị B và bà Ph đều không biết . Tòa án xác minh tại chính quyền địa phương đều không rõ và anh Thành cũng không thông bá o gì đế n gia đì nh và chí nh quy ền. Tòa án phải th ông bá o tì m kiế m ngườ i vắ ng mặ t tạ i nơi cư trú hoặ c th ông bá o tì m kiế m ngườ i mấ t tí ch mớ i đả m bảo quy đị nh củ a phá p luậ t hoặ c đì nh chỉ hay tạ m đì nh chỉ việ c giả i quyế t vụ á n.
+ Quá trình giải quyết vụ án do anh Th không có mặt tại địa phương nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn đưa vụ án ra xé t xử là không đả m bả o . Bà Ph và anh Th chưa nhậ n đượ c bấ t cứ giấ y triệ u tậ p nà o củ a Tò a á n , quá trình nhận các văn bản tố tụng chị B cũng chưa nhận thay ai giấy tờ gì tại Tòa án . Uỷ ban nhân dân phườ ng Q cho chị B biết chỉ có 01 lầ n Tò a á n nhân dân th ành phố Thái Bình đến làm thủ tục xác minh và niêm yết tại phường.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
- Bị đơn là chị Nguyễn Thị Thu B giữ nguyên cá c yêu cầ u khá ng cá o đã nêu ở trên. Chị B thừa nhận các chữ ký và chữ viết “B - Nguyễn Thị Thu B” trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp đúng là chữ ký và chữ viết của chị B. Chị B trình bày vay tiền của bố đẻ là ông Kh để xây nhà trước khi thế chấp nhà đất, còn sau khi thế chấp nhà đất chỉ lợp lại mái tum tầng ba bằng brô xi măng. Chị B xuất trình 01 hợp đồng thuê nhà đề ngày 15/8/2016 giữa người cho thuê là bà Phạm Thị Ph và người thuê nhà là ông Vũ Đức C, địa chỉ:, phố L, tổ A,phường Q, thành phố TB. Chị B trình bày từ khi ký hợp đồng thuê nhà thì ông C chưa sử dụng và cũng chưa sửa chữa gì nhà thuê của bà Ph. Còn hiện nay người đang thuê nhà là anh Nguyễn L, địa chỉ: xóm X, thôn R, xã N, huyện TH, tỉnh Thái Bình. Anh L trực tiếp giao dịch thuê nhà và trả tiền thuê nhà với bà Ph, chị B không nhận tiền thuê nhà của anh L. Chị B chấp nhận trả Ngân hàng QT khoản nợ gốc và lãi trong hạn, chị B xin Ngân hàng miễn khoản lãi quá hạn và nếu Ngân hàng miễn cho chị B khoản lãi quá hạn thì chị B sẽ rút yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Ngân hàng QT trình bày: Ngân hàng QT giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các quan điểm, ý kiến đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm do yêu cầu kháng cáo của chị B là không có cơ sở và căn cứ pháp luật. Còn về việc chị B đề nghị Ngân hàng QT miễn khoản lãi quá hạn, thì đại diện Ngân hàng cho biết sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu chị B có đơn đề nghị và hợp tác với Ngân hàng trong việc thu hồi nợ thì Ngân hàng có thể xem xét miễn giảm một phần lãi quá hạn cho chị B và anh T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến:
+Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ thủ tục thụ lý vụ án, mở phiên tòa và xét xử tại phiên tòa. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn là chị B đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đã được tranh tụng và trình bày quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Những người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo là anh T và bà Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về nghĩa vụ của đương sự và tự tước bỏ quyền của mình, nên việc Tòa án xét xử vắng mặt những người này là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận các yêu cầu kháng cáo của chị B vì hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp được ký kết do các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện, được công chứng và đăng ký thế chấp đúng quy định pháp luật. Việc chị B trình bày đất có tranh chấp, xây dựng thêm nhiều công trình mới nhưng Tòa án đã tiến hành xác minh hiện không có tranh chấp và không có sửa chữa, xây dựng mới. Việc bà Ph cho thuê nhà không được sự đồng ý của Ngân hàng, hợp đồng thuê nhà do chị B cung cấp không có công chứng chứng thực. Vì vậy đây là lỗi của người cho thuê nhà, nếu có tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi các bên có yêu cầu. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành giải quyết vụ án đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của chị B vì không có cơ sở và căn cứ pháp luật, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, tài sản thế chấp là thuộc quyền sử dụng và sở hữu của bà Ph, nên cần phải sửa cách tuyên của án sơ thẩm về việc khi phát mại tài sản thế chấp, giá trị của tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì Ngân hàng phải thanh toán số tiền chênh lệch đó cho bà Ph.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Xét thấy, theo hợ p đồ ng tí n dụ ng đượ c ký kế t với Ngân hàng QT Chi nhánh TB thì địa chỉ nơi cư trú của bị đơn là anh Nguyễn Tất T ở đường L, tổ A, phường Q, thành phố TB, tỉnh Thái Bình. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác minh tại địa phương, địa chỉ nơi anh Nguyễn Tất T và chị Nguyễn Thị Thu B làm hợp đồng với Ngân hàng, chính quyền địa phương cung cấp cho biết: Trước tháng 5/2015 anh T và chị B vẫn sinh sống tại đường L, tổ A, phường Q, thành phố TB. Sau tháng 5/2015 đến nay không thấy anh T, chị B có mặt tại nơi cư trú, anh T đi đâu, làm gì không báo lại cho tổ dân phố và chính quyền địa phương biết. Ngày 19/10/2015, Tòa án đã xác minh thông tin xuất nhập cảnh của anh Nguyễn Tất T tại Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Thái Bình, kết quả: Sau khi tra cứu trên hệ thống quản lý xuất nhập cảnh không có thông tin cấp hộ chiếu và thông tin xuất nhập cảnh của anh Nguyễn Tất T. Phía Ngân hàng cũng cho biết anh T thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho Ngân hàng biết nơi cư trú mới theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Tòa án cấp sơ thẩm xá c đị nh bị đơn là anh T thay đổ i nơi cư trú mà không th ông bá o cho Ngân hàng QT chi nhánh TB biế t nơi cư trú làm việc mới là cố tình giấu địa chỉ . Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiế n hà nh niêm yế t thông bá o thụ lý vụ á n, thông bá o về phiên họ p kiể m tra việ c giao nộ p, tiế p cậ n, công khai chứ ng cứ và hò a giả i, quyế t đị nh đưa vụ á n ra xé t xử , quyế t đị nh hoã n phiên tò a tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của anh T đú ng theo quy đị nh củ a Bộ luậ t tố tụ ng dân sự . Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền và tiế n hà nh xé t xử vắ ng mặ t anh T là phù hợ p vớ i quy đị nh củ a phá p luậ t.
Tòa án cấp phúc thẩm đã ti ến hành niêm yế t quyế t đị nh đưa vụ á n ra xét xử phúc thẩm , quyế t đị nh hoã n phiên tò a , quyế t đị nh tạ m ngưng phiên tò a tại trụ sở Ủ y ban nhân dân phườ ng Q , thành phố TB là đ ịa chỉ nơi cư trú của anh Nguyễ n Tấ t T nhưng anh T vẫ n vắ ng mặ t tại phiên tòa không có lý do ; Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ lần thứ ba đối vớ i bà Phạ m Thị Ph , lầ n thứ nhấ t bà Ph vắ ng mặ t không có lý do , lầ n thứ hai bà Ph có đơn đề nghị Tòa án ho ãn phiên tòa vì lý do đang bị ốm và không đủ minh mẫn để tham gia phiên tòa, lầ n thứ ba bà Ph vắ ng mặ t không có lý do . Xét thấy, anh T và bà Ph là những ng ười không khá ng cáo nhưng có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo đã được Tòa án triệ u tậ p hợ p lệ lầ n thứ ba mà vẫn vắ ng mặ t, nên Tò a á n tiế n hà nh xé t xử vắ ng mặ t anh T và bà Ph là phù hợ p vớ i quy đị nh tạ i khoả n 3 Điề u 296 của Bộ luật tố tụng dân sự .
Xét thấy, bị đơn là chị Nguyễn Thị Thu B vắng mặt tại phiên Tòa sơ thẩm và ngày 24/5/2017 Tòa án cấp sơ thẩm mới tống đạt bản án cho chị B. Vì vậy, ngày 05/6/2017 chị B làm đơn kháng cáo và ngày ngày 07/7/2017 có bản tự khai là m rõ yêu cầ u khá ng cá o g ửi đến Tòa án trong thời hạn kháng cáo và thờ i hạn bổ sung kháng cáo quy định tại khoản 1 Điều 273, khoản 2 Điề u 284 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 30/8/2017, chị B có văn bản trình bày về kháng cáo không vượ t quá yêu cầ u khá ng cá o ban đầ u , nên các nội dung khán g cá o củ a chị Bình là hợp lệ, đượ c xem xé t theo thủ tụ c phú c thẩ m.
Xét nội dung kháng cáo của chị Nguyễ n Thị Thu B:
Xét kháng cáo v ề số tiền nợ gốc , lãi trong hạn , nợ lã i quá hạ n : Ngân hàng QT chi nhánh TB và anh Nguyễn Tất T cùng vợ là chị Nguyễn Thị Thu B đã ký kết h ợp đồng tín dụng số 341.1/HĐTD-VIB 44/12 với số tiền vay là 1.000.000.000 đồng và phụ lục hợp đồng tín dụng số 341.1.1/PLHĐ-VIB 44/12 ngày 31/01/2013 là hoàn toàn tự nguyện , đúng quy định của pháp luật . Ngân hà ng cũng đã tiế n hà nh giả i ngân cho anh Nguyễ n Tấ t T số tiề n 1.000.000.000 đồng qua 02 khế ướ c nhậ n nợ s ố 341.1.7/KUNN7 ngày 26/8/2013 và khế ước nhận nợ số 341.1.8/KUNN7 ngày 29/8/2013. Theo khoả n 2 Điề u 4 hợ p đồ ng tí n dụ ng mà hai bên ký kế t thỏ a thuậ n : “Nế u bên vay không trả nợ đú ng hạ n và không đượ c Ngân hàng QT đồ ng ý cho cơ cấ u lạ i thờ i hạ n trả nợ , thì phải thanh toán ngay toàn bộ số nợ cò n lạ i theo lã i suấ t nợ quá hạn bằng 150% mứ c lã i suấ t vay” là phù hợp với quy đị nh tạ i khoản 2 Điều 13 và khoản 2 Điều 11 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 đã đượ c sử a đổ i bổ sung tạ i khoả n 2 Điề u 11 Quyế t đị nh số 20/VBHN-NHNN ngà y 22/5/2014 về việ c ban hà nh quy chế cho vay củ a tổ chứ c tí n dụ ng đối vớ i khá ch hà ng củ a Ngân hà ng Nhà nướ c Việ t Nam . Vì vậy, do anh T và chị B không thự c hiệ n nghĩ a vụ trả nợ lã i và o ngà y 12 hàng tháng theo thỏa thuận nên khoản vay chuyể n nợ quá hạ n từ ngà y 12/10/2013, nên anh T và chị B phả i thanh toá n toàn bộ số nợ còn lại theo lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mứ c lãi suất vay là phù hợp với quy định của pháp luật . Theo tí nh toá n củ a Ngân hàng QT thì dư nợ của anh T và chị B tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 16/5/2017 là 1.707.946.081 đồ ng, trong đó : Tiề n nợ gố c là 1.000.000.000 đồ ng; Tiề n nợ lã i trong hạ n là 58.828.938 đồ ng; Tiề n nợ lã i quá hạ n là 649.117.143 đồ ng. Việ c tí nh toán khoản nợ g ốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn của Ngân hàng QT là phù hợp với thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng tín dụng và phù hợp với quy định của pháp luậ t. Tại cấp sơ thẩm, chị B cũng thừa nhậ n vợ chồ ng chị đã vay củ a Ngân hàng QT chi nhánh TB số tiề n 1.000.000.000 đồ ng và không có ý kiế n gì về việ c tí nh lã i trong hạ n và lã i quá hạ n củ a Ngân hàng. Đế n khi xé t xử phú c thẩ m, chị B mới cho rằ ng anh T là ngườ i v ay số tiề n trên chị B không biế t và chỉ ký và o trong hợ p đồ ng. Anh T vay tiề n là m gì chị Bì nh đề u không biế t , chị B chỉ biết cán bộ tín dụng đến nhà bảo chị B ký vào để hoàn tất thủ tục cho đảm bảo , mộ t số chữ ký trong hợ p đồ ng tí n dụ ng không phả i chữ ký củ a chị B. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị B thừ a nhậ n cá c chữ ký và chữ viế t “B - Nguyễ n Thị Thanh B” trong hợ p đồ ng tí n dụng là chữ ký và chữ viết của chị B . Theo hợ p đồ ng tí n dụ ng thì bên vay là anh T và người đồng trách nhiệm là chị B. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khở i kiệ n củ a Ngân hàng QT về việ c buộ c anh T và chị B phả i trả cá c khoả n nợ gốc, lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn là có căn cứ, đú ng phá p luậ t.
Xét kháng cáo về tài sản đảm bảo:
Xét thấy , chị Btrình bày không biết V ăn phò ng công chứ ng Hưng Thịnh ở đâu, chưa đế n công chứ ng lầ n nà o và theo quy đị nh thì chị B phải đế n Văn phòng công chứng để làm hợp đồng tín dụng. Nhưng hợ p đồ ng tí n dụ ng chỉ do bên vay nợ và bên Ngân hà ng ký kế t , còn bà Phương thì thừa nhận cho anh T và chị B mượ n giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t để thế chấ p v
ay vố n Ngân hà ng và không có ý kiế n gì về hợ p đồ ng thế chấ p , chị B cũng thừa nhận các chữ ký và chữ viế t “B - Nguyễ n Thị Thu B” trong hợ p đồ ng thế chấ p là chữ ký và chữ viế t củ a chị B. Vì vậy, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y hợ p đồ ng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 553/2011/BĐ ngà y 26/8/2011 đượ c ký kế t giữ a bên thế chấ p là bà Phạ m Thị Ph, bên nhậ n thế chấ p là Ngân hàng QT chi nhánh TB, bên vay vố n là anh Nguyễ n Tấ t T và chị Nguyễ n Thị Thu B là hoà n toà n tự nguyệ n; đã đượ c công chứ ng (số công chứ ng 995/2011Quyể n số 1VPCCHT/HĐTC-VIB ngà y 26/8/2011) tại Văn phòng Công chứng Hưng Thịnh tỉnh Thái Bình và đã được đăng ký thế chấ p quyề n sử dụ ng đấ t tạ i Văn phò ng đăng ký quyề n sử dụ ng đấ t thành phố Thái Bình ngày 26/8/2011 đú ng theo quy đị nh phá p luậ t nên có hiệ u lự c thi hà nh.
Xét thấy, chị B cho rằ ng diệ n tí ch đấ t củ a bà Ph ngoà i diệ n tí c h đấ t đã đượ c cấ p bì a đỏ cò n có diệ n tí ch đấ t chưa có bì a đỏ hiệ n đang có tranh chấ p vớ i các hộ liền kề, đấ t phí a sau bà Ph đã bá n cho 02 hộ dân liề n kề , trên đấ t cò n có nhà mớ i xây do bố chị Ph cho vay tiề n để là m. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị B trình bày vay tiền của bố đẻ là ông Kh để xây nhà trước khi thế chấp nhà đất, còn sau khi thế chấp nhà đất chỉ sửa lại mái tum tầng ba. Tuy nhiên qua xá c minh ngày 05/9/2017, Ủy ban nhân dân phường Q cung cấp cho biết h iệ n trạ ng diệ n tí ch đấ t bà Ph đang sử dụ ng tạ i đường L, tổ A, phườ ng Q, thành phố TB là 95,7 m2, trong đó có 70 m2 đã đượ c cấ p giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t, diệ n tí ch đấ t dư phí a Tây thử a đấ t là 25,7 m2 chưa đượ c cấ p giấ y chứ ng nhậ n và diệ n tí ch đấ t thuộ c quy hoạ ch vỉ a hè đường L thì gia đì nh bà Ph đã xây dự ng nhà ở . Khoảng năm 2010 hoặ c 2012 gia đì nh bà Ph có đơn đề nghị đ ược sử a chữ a nh à đối với phần đất quy hoạch vỉ a hè đường L, còn từ năm 2011 đến nay thì Ủy ban nhân dân phường Q không xác nhận thủ tục cấp phép xây mới nhà ở cho gia đình bà Ph . Cho đế n thờ i điể m hiệ n nay thì Ủy ban nhân dân phường Q không nhậ n đượ c đơn kiế n nghị về tra nh chấ p đấ t đai của gia đình bà Ph cũng như các hộ gia đình liền kề đối với diện tích đất bà Ph đang quả n lý sử dụ ng . Như vậ y, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y không có việ c tranh chấ p đố i vớ i quyề n sử dụ ng đấ t do bà Ph đang quản lý sử dụng và từ khi ký kết hợ p đồ ng thế chấ p thì gia đì nh b à Ph cũng không xin cấp phép xây dựng mới nhà ở. Mặ t khá c, theo hợ p đồ ng thế chấ p, bên thế chấ p là bà Ph thế chấ p tà i sả n là di ện tích thửa đất 70 m2 ( đã đượ c cấ p giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t ) và nhà mái bằng 02 tầng diện tích xây dựng 80 m2, toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp tạ i đường L, tổ A, phường Q, thành phố TB, tỉnh Thái Bình cho Ngân hàng QT Chi nhánh TB để bảo đảm cho nghĩa vụ dân sự của bên vay vốn là anh T và chị B. Vì vậy, việ c bố chị B cho vay tiề n là m nhà như chị B trì nh bà y là quan hệ pháp luật khác giữa người vay tiền với bố chị B không liên quan đến hợp đồng thế chấ p tà i sả n củ a bà Ph vớ i Ngân hàng QT chi nhánh TB.
Theo chị B trì nh bà y bà Ph đã cho thuê nhà đấ t đã thế chấ p trên 20 năm. Ngày 05/9/2017, Tòa án cấ p phú c thẩ m đã tiế n hà nh xá c minh tạ i số nhà 486, đường L, tổ A, phường Q, thành phố TB thì có anh Nguy ễn L sinh năm 1985, trú tại: thôn R, xã N, huyệ n TH, tỉnh Thái Bình là chủ cửa hàng tại tầng một của n gôi nhà bà Ph trình bày: Đã ký hợp đồng thuê nhà với chị B để mở cửa hàng bán đồ lễ cướ i hỏ i từ thá ng 11/2016, có sự chứng kiến của bà Ph , thờ i hạ n thuê nhà là 10 năm, phải trả tiền trước 05 năm, chị B là người trực tiếp nhận tiề n và có biên bả n giao nhậ n tiề n đầ y đủ . Từ khi thuê nhà anh L không sử a chữ a hay xây dự ng mớ i công trì nh gì , chỉ lắp biển quảng cáo , kệ và giá để bá n hà ng . Tòa án đã triệu tập anh L đến tham dự phiên tòa và yêu cầu cung cấp hợp đồng cũng như biên nhận giao tiền, nhưng anh L không đến tham dự phiên tòa. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị B trình bày anh L trực tiếp giao dịch thuê nhà và trả tiền thuê nhà với bà Ph, chị B không nhận tiền thuê nhà của anh L. Chị B còn trình bày bà Ph còn ký hợp đồng đề ngày 15/8/2016 cho ông C thuê nhà, từ khi ký hợp đồng thì ông C chưa sử dụng và cũng chưa sửa chữa gì nhà thuê của bà Ph. Xét thấy, trong quá trì nh Tò a á n cấ p sơ thẩ m giả i quyế t vụ á n thì chị B và bà Ph cũ ng không trì nh bà y gì về việc cho anh L, ông C thuê nhà , khi viế t bả n tự khai ngà y 07/7/2017 tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình thì chị B trình bày hiện bà Ph đang quản lý tài sản thế chấp . Tại phiên tòa phúc thẩm, chị B không cung cấp được hợp đồng thuê nhà có công chứng hoặc chứ ng thự c cho Tò a á n . Do đó không có căn cứ để xác định bà Ph cho anh L, ông C thuê nhà vào thời điểm trước khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án hay sau khi Tòa án đã xét xử sơ thẩm. Mặ t khá c, theo thỏ a thuậ n tạ i khoả n 2 Điề u 3 của hợp đồ ng thế chấ p : “Bên thế chấ p chỉ đ ược cho thuê , cho mượ n tà i sả n thế chấ p sau khi đượ c VIB chấ p thuậ n bằ ng văn bả n. VIB được yêu cầ u bên thê chấ p , bên thuê mượ n tà i sả n phả i ngừ ng việ c cho thuê , cho mượ n, khai thá c, sử dụ ng tà i sả n thế chấ p và phả i á p dụ ng cá c biệ n phá p cầ n thiế t khắ c phụ c hoặ c thay thế bằ ng tà i sả n khác, biệ n phá p bả o đả m khá c nế u việ c khai thá c, sử dụ ng tà i sả n thế chấ p có nguy cơ mấ t giá trị, hoặ c giả m sú t giá trị củ a tà i sả n thế chấ p . Nế u bên thế chấ p , bên thuê, mượ n tà i sả n không thự c hiệ n hoặ c không thự c hiệ n đượ c hoặ c không thự c hiệ n đầ y đủ , VIB sẽ có toà n quyề n xử lý tà i sả n thế chấ p và thu nợ
của bên vay trướ c thờ i hạ n ”. Như vậ y, bà Ph đã cho anh L , ông C thuê nhà sau khi đã ký kế t hợ p đồ ng thế chấ p mà không có sự đồ ng ý củ a Ngân hàng QT nên lỗ i hoà n toà n thuộ c về bà Ph . Trong trườ ng hợ p Ngân hàng QT yêu cầ u cơ qu an thi hà nh á n có thẩ m quyề n kê biên phá t mạ i tà i sả n thế chấ p , thì việc hoàn trả số tiền thuê nhà đã trả trước và bồi thường thiệt hại về việc phải chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thờ i hạ n (nế u có ) sẽ được giải q uyế t bằ ng vụ á n dân sự khá c khi anh L , ông C có yêu cầ u.
Từ nhữ ng nhậ n đị nh ở trên , Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y không cầ n thiế t phải tiế n hà nh xem xé t thẩ m đị nh tạ i chỗ đố i vớ i tà i sả n thế chấ p vì trong trườ ng hợ p Ngân hàng QT yêu cầ u cơ quan thi hà nh á n có thẩ m quyề n kê biên phá t mại tài sản thế chấp thì sẽ thực hiện kê biên các tài sản theo hợp đồng thế chấp.
Theo hợ p đồ ng thế chấ p, bên thế chấ p là bà Ph thế chấ p tà i sản là nhà đấ t củ a mì nh tạ i đường L, tổ A, phường Q, thành phố TB, tỉnh Thái Bình cho Ngân hàng QT Chi nhánh TB để bảo đảm cho nghĩa vụ dân sự của bên vay vốn là anh T và chị B. Tại điểm a khoản 1 Điề u hợ p đồ ng thế chấ p cá c bên cò n thỏa thuận: “Các bên thỏ a thuậ n rằ ng tà i sả n thế chấ p sẽ đượ c xử lý để thu hồ i nợ ngay khi phá t sinh mộ t trong cá c trườ ng hợ p sau đây: Đế n thờ i hạ n thự c hiệ n nghĩ a vụ trả nợ mà bên vay không thự c hiệ n hoặ c thự c hiệ n không đú ng, không đầ y đủ nghĩ a vụ trả nợ theo hợ p đồ ng tí n dụ ng , hợ p đồ ng bả o lã nh , LC và cá c văn bả n khá c đã ký vớ i VIB”. Vì vậy, xét thấy án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng QT về xử lý tà i sả n thế chấ p là phù hợ p vớ i thỏ a thuậ n củ a cá c bên và phù hợ p vớ i quy đị nh củ a phá p luậ t . Do đó không có căn cứ để chấ p nhậ n yêu cầ u khá ng cá o của chị Nguyễn Thị Thu B đố i vớ i phầ n quyế t đị nh củ a á n sơ thẩ m về phầ n xử lý tài sản thế chấp . Tuy nhiên, xét thấy theo hợp đồng thế chấp thì tài sản thế chấp thuộ c quyề n sử dụ ng và sở hữ u củ a bà Phạ m Thị Ph nhưng á n sơ thẩ m lạ i quyế t đị nh khi phá t mạ i tà i sả n thế chấ p giá trị của tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì Ngân hàng QT phải thanh toán cho anh T , chị B số tiề n chênh lệ ch là không đú ng . Nên cầ n sử a phầ n quyế t đị nh nà y củ a á n sơ thẩ m , phải tuyên trả cho bà Ph số tiề n chênh lệ ch nà y và phải ghi cụ thể các tài sản thế chấp.
Xét kháng cáo về án phí sơ thẩm: Xét thấy, án sơ thẩm quyết định buộc anh T và chị B phả i có nghĩ a vụ t hanh toán cho Ngân hàng QT số tiề n nợ gố c , lãi trong hạ n và lã i quá hạ n tổ ng số là 1.707.946.081 đồ ng. Do vụ á n thụ lý ngà y 20/12/2016 nên phả i á p dụ ng quy đị nh củ a Phá p lệ nh á n phí , lệ phí Tò a á n để tí nh án phí kinh doanh thương mạ i có giá ngạ ch tương ứng vớ i số tiề n mà án sơ thẩm buộ c anh T và chị B có nghĩ a vụ phả i thanh toá n cho Ngân hàng QT. Vì vậy, việ c tính án phí của án sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật . Chị B kháng cáo không đồ ng ý nộ p á n phí theo quyế t đị nh củ a á n sơ thẩ m và xin Tò a á n cấ p phú c thẩ m miễ n giả m á n phí cho vợ chồ ng chị B vì hoà n cả nh khó khăn , nhưng không có đơn đề nghị xin miễn giảm án phí có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường nơi chị B cư trú xác nhận về việc hoàn cảnh kinh tế khó khăn hoặc gặ p sự kiệ n bấ t khả kháng dẫn đến không có đủ tải sản để nộp án phí. Vì vậy, Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y không có căn cứ để chấ p nhậ n yêu cầ u khá ng cá o về việ c nộ p á n phí sơ thẩ m và xin cấ p phú c thẩ m miễ n giả m á n phí sơ thẩm của chị B.
Từ nhữ ng nhậ n đị nh nêu trên , Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y không có căn cứ để chấp nhận các yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị Thu B. Nhưng cần sửa một phần án sơ thẩm về cách tuyên đối với phần về phát mại tài sản thế chấp.
Về á n phí phú c thẩ m : Xét thấy, do cấ p phú c thẩ m sử a mộ t phầ n quyế t đị nh củ a á n sơ thẩ m , nên chị B không phả i nộ p á n phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Trả lại chị B số tiền đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 293, Điều 307, khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 122, 290, 318, 319, 322, 323, 342, 343, 355, 389, 401, 402, 405, 408, 492, 715, 716, 717, 718, 720 và 721 của Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010; điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; các Điều 4, 56, 58, 65 và 68 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ về giao dịch bảo đảm; các Điều 24, 26 và 27 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị Thu B.
2. Sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2017/KDTM-ST ngày 16/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
2.1 - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng QT:
- Buộc anh Nguyễn Tất T và chị Nguyễn Thị Thu B phải trả cho Ngân hàng QT các khoản nợ tính đến ngày 16/5/2017 như sau:
Tiền nợ gốc: 1.000.000.000 đồng;
Tiền nợ lãi trong hạn: 58.828.938 đồng;
Tiền nợ lãi quá hạn: 649.117.143 đồng.
Tổng số tiền phải trả tính đến ngày 16/5/2017 là 1.707.946.081(Một tỷ bảy trăm linh bảy triệu chín trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm tám mươi mốt) đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (16/5/2017), người phải thi hành án tiếp tục chịu khoản lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
2.2 - Khi bản án có hiệu lực pháp luật mà anh Nguyễn Tất T và chị Nguyễn Thị Thu B không trả được nợ cho Ngân hàng QT, thì Ngân hàng QT có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 553/2011/BĐ ngày 26/8/2011 là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 60, tờ bản đồ 04 thuộc đường L, tổ A, phường Q, thành phố TB, tỉnh Thái Bình gồm: Diện tích thửa đất 70 m2 và nhà mái bằng 02 tầng diện tích xây dựng 80 m2, toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 430283, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00101/QT-TPTB do Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình cấp ngày 25/11/2009 thuộc quyền sử dụng và sở hữu của bà Phạm Thị Ph.
Khi phát mại tài sản thế chấp, giá trị của tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì Ngân hàng QT phải thanh toán số tiền chênh lệch đó cho bà Phạm Thị Ph. Khi phát mại tài sản thế chấp vẫn chưa đủ trả nợ thì anh Nguyễn Tất T và chị Nguyễn Thị Thu B phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng QT số nợ còn thiếu.
2.3 - Án phí sơ thẩm:
- Trả lại Ngân hàng QT số tiền 25.260.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005623 ngày 21/8/2015của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Anh Nguyễn Tất T và chị Nguyễn Thị Thu B phải chịu 63.238.382 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
3. Án phí phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu B không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Trả lại chị Nguyễn Thị Thu B số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006517 ngày 22/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 12 tháng 9 năm 2017.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - TAND tp.Thái Bình; - Chi cục THADS tp.Thái Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thái Hà |