- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "tranh chấp hợp đồng lao động"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/LĐ-ST Ngày: 25-7-2025 V/v tranh chấp về hợp đồng lao động |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Thoa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Minh Tuấn;
Ông Trần Quang Tuyến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thảo Vy- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 25/2025/TLST-LĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 về việc “tranh chấp về hợp đồng lao động”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-LĐ ngày 01 tháng 7 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-LĐ ngày 15 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng Đ, sinh năm 1989, địa chỉ: Số G, tổ A, ấp B, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay là xã D, tỉnh Tây Ninh); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH V, địa chỉ: Số B, V, đường số I, khu công nghiệp V - S, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1982, địa chỉ liên hệ: Số B, V, đường số I, khu công nghiệp V - S, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) (văn bản uỷ quyền ngày 12/5/2025); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bảo hiểm xã hội thành phố T, địa chỉ: Số A, đường L, khu B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.
2. Bà Lê Liễu H, sinh năm 1991, địa chỉ: Số D, đường L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Hồng Đ trình bày:
Tháng 09/2008, bà Lê Thị Hồng Đ có cho em ruột là bà Lê Liễu H mượn chứng minh nhân dân của bà Đ để xin việc làm tại Công ty TNHH V (gọi tắt Công ty V), do lúc này bà H chưa đủ tuổi đi làm và cuộc sống khó khăn nên bà Đ cũng đồng ý giúp vì nghĩ không có gì, tạo điều kiện cho em gái đi làm có thu nhập trang trải cuộc sống.
Sau đó, bà Lê Thị Hồng Đ nhận được thông báo của Bảo hiểm xã hội thông báo cho bà Đ biết việc bà Lê Thị Hồng Đ bị dư thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ ngày 01/9/2008 đến ngày 31/9/2008 của sổ: 7408257749 cấp tại Công ty V; lý do trong khoảng thời gian này, bà H đã lấy thông tin cá nhân của bà Đ để ký hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty V.
Để có đủ hồ sơ tách quá trình tham gia bảo hiểm xã hội bị trùng tại Công ty TNHH V và để bà Đ đủ điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định; ngày 19/02/2025, bà Đ yêu cầu Toà án giải quyết:
1. Tuyên bố hợp đồng lao động ký giữa Công ty V và bà Lê Thị Hồng Đ từ ngày 01/9/2008 đến ngày 31/9/2008 là vô hiệu.
2. Yêu cầu Tòa án xử lý thời gian tham gia bảo hiểm xã hội đứng tên Lê Thị Hồng Đ với số sổ là 7408257749 tại Công ty V theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/5/2025, bà Đ nộp đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu Tòa án xử lý thời gian tham gia bảo hiểm xã hội đứng tên Lê Thị Hồng Đ với số sổ là 7408257749 tại Công ty V theo quy định của pháp luật; bà Đ chỉ yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động ký giữa Công ty V và bà Lê Thị Hồng Đ từ ngày 01/9/2008 đến ngày 31/9/2008 là vô hiệu.
Bị đơn Công ty V do người đại diện theo uỷ quyền là bà Nguyễn Thị Hồng P trình bày:
Công ty V thống nhất toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng Đ. Hiện nay, do nhân viên là bà Lê Thị Hồng Đ đã nghỉ việc từ ngày 06/10/2008, nên hợp đồng lao động ký giữa Công ty V và bà Lê Thị Hồng Đ đã hủy không lưu giữ tại Công ty.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Liễu H trình bày:
Thống nhất với trình bày của nguyên đơn bà Đ tại đơn khởi kiện và các bản tự khai về việc vào khoảng 09/2008 bà H có mượn thông tin cá nhân của bà Đ gồm giấy chứng minh nhân dân của bà Đ để ký hợp đồng lao động với Công ty V do lúc này, bà H chưa đủ tuổi đi làm và cuộc sống hết sức khó khăn. Bà H thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị tuyên bố hợp đồng lao động ký giữa Công ty V và bà Lê Thị Hồng Đ từ ngày 01/9/2008 đến ngày 31/9/2008 là vô hiệu và xử lý thời gian tham gia bảo hiểm xã hội đứng tên Lê Thị Hồng Đ với số sổ là 7408257749 tại Công ty V theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T: Tại văn bản trình bày số 72/CV-BHXH ngày 14/6/2025, người đại diện theo pháp luật của bảo hiểm trình bày: Căn cứ vào tờ khai mẫu TK1-TS ngày 13/01/2025 của bà Lê Thị Hồng Đ, Bảo hiểm xã hội tỉnh B (nay là Bảo hiểm xã hội thành phố T) đã làm việc trực tiếp với bà Lê Thị Hồng Đ ngày 21/01/2025 liên quan đến cho mượn hồ sơ tư pháp đi làm của mã số BHXH 7408257749, dẫn đến bị trùng quá trình tham gia bảo hiểm xã hội của bản thân bà Đ mã số bảo hiểm xã hội 7209012619, quá trình cụ thể như sau:
Mã số bảo hiểm xã hội 7408257749 (cho mượn): Quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp từ tháng 01/9/2008 đến 30/9/2008 tại Công ty V, địa chỉ: Số B, V, đường số I, khu công nghiệp V - S, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); từ tháng 12/2008 đến tháng 01/2015 tại C, địa chỉ: B, đại lộ tự do, khu công nghiệp V, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh); đã hưởng bảo hiểm xã hội một lần.
Mã số bảo hiểm xã hội 7209012619: Quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp từ tháng 12/2008 đến tháng 7/2019 tại Công ty TNHH V1, địa chỉ: H, đường N, khu phố C, phường C, tỉnh Tây Ninh; từ tháng 11/2019 đến tháng 12/2023 tại Công ty Cổ phần G, địa chỉ: Lô G - (Khu B), đường D, khu công nghiệp R, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); đã hưởng chế độ ốm đau, bảo hiểm thất nghiệp.
Việc bà Lê Thị Hồng Đ yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một (nay là Toà án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh) tuyên bố hợp đồng lao động giữa Công ty V và bà Lê Thị Hồng Đ (từ 01/9/2008 đến 30/9/2008) vô hiệu, Bảo hiểm xã hội thành phố T đề nghị Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu đề nghị Tòa án tuyên buộc người mượn hồ sơ tư pháp đi làm việc và tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp hoàn trả số tiền đã hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp vào quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và được điều chỉnh thông tin nhân thân đúng của người lao động.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với việc xét xử sơ thẩm vụ án. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
+ Về nội dung: Ngày 14/5/2025, bà Đ nộp đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu Tòa án xử lý thời gian tham gia bảo hiểm xã hội đứng tên Lê Thị Hồng Đ với số sổ là 7408257749 tại Công ty V theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp: Bà Lê Thị Hồng Đ khởi kiện yêu cầu tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên Lê Thị Hồng Đ (do bà Lê Liễu H là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty V trong khoảng thời gian làm từ ngày 01 tháng 9 năm 2008 đến 30 tháng 9 năm 2008 là vô hiệu toàn bộ. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp về hợp đồng lao động” được quy định tại khoản 1 Điều 32 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty V có trụ sở: Số B V, đường số I, khu công nghiệp V - S, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh). Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Hồng Đ; người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Nguyễn Thị Hồng P; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Liễu H có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bảo hiểm xã hội thành phố T vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
Ngày 14/5/2025, bà Đ nộp đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu Tòa án xử lý thời gian tham gia bảo hiểm xã hội đứng tên Lê Thị Hồng Đ với số sổ là 7408257749 tại Công ty V. Căn cứ theo Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng Đ đối với Công ty V về việc yêu cầu xử lý thời gian tham gia bảo hiểm xã hội đứng tên Lê Thị Hồng Đ với số sổ là 7408257749 tại Công Onamba.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện vào tháng 9 năm 2008 giữa Công ty V và bà Đ (thực tế bà H ký hợp đồng lao động). Bà H làm việc tại công ty đến hết tháng 9 năm 2008 thì bà H nghỉ việc. Thời gian bà H làm việc tại Công ty V, công ty Đ1 cho người lao động đầy đủ. Khi bà H đến Công ty V làm việc, hồ sơ thể hiện tên người xin việc là bà Lê Thị Hồng Đ, do đó toàn bộ hồ sơ tại công ty liên quan đến người lao động làm việc cho Công ty V đều thể hiện tên bà Đ, vì vậy công ty đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động đều có tên Lê Thị Hồng Đ mà không phải là Lê Liễu H. Xét, sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy bà Lê Liễu H sử dụng hồ sơ cá nhân của bà Lê Thị Hồng Đ để ký kết hợp đồng lao động với Công ty V từ 01/9/2008 đến 30/9/2008, là không đúng chủ thể xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động được quy định tại tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994 (Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2019). Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015) xét thấy, yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động người lao động tên Lê Thị Hồng Đ và Công ty TNHH V từ 01/9/2008 đến ngày 30/9/2008 là có cơ sở chấp nhận.
Do đương sự chỉ yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu và không có yêu cầu giải quyết về hậu quả của hợp đồng vô hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Công ty TNHH V phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, các Điều: 217, 227, 228, 235, 238, 244, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án
Các Điều 122, 132, 137 Bộ luật Dân sự năm 2005 (Các Điều: 117, 122, 127; 131 của Bộ luật Dân sự 2015);
Điều 9 của Bộ luật Lao động năm 1994; các Điều 15, 49, 50 và Điều 51 của Bộ luật Lao động năm 2019;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng Đ đối với Công ty TNHH V về việc yêu cầu xử lý thời gian tham gia bảo hiểm xã hội đứng tên Lê Thị Hồng Đ với số sổ là 7408257749 tại Công ty TNHH V.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng Đ đối với bị đơn Công ty TNHH V về việc tranh chấp hợp đồng lao động.
Tuyên bố hợp đồng lao động giao kết giữa bà Lê Thị Hồng Đ và Công ty TNHH V từ ngày 01 tháng 9 năm 2008 đến ngày 30 tháng 9 năm 2008 bị vô hiệu.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Công ty TNHH V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND cùng cấp; - THADS Tp. Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Dương Thị Kim Thoa |