vanban.org

Bản án 03/2024/LĐ-ST — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 10/01/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị H về việc tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Hồ Thị H và Công ty P (thời gian làm việc từ tháng 4/2011 đến tháng 12/2011) vô hiệu. Án phí lao động sơ thẩm: Chị Hồ Thị H chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí lao động sơ thẩm, khấu trừ toàn bộ vào tạm ứng án phí chị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Hồ Thị H tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị H về việc tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.
  • Căn cứ chính? Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 132 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 03/2024/LĐ-ST
Ngày: 10/01/2024
Về việc tranh chấp về yêu cầu tuyên bố
hợp đồng lao động vô hiệu.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Nam Lê Thiện – Phó chủ tịch Liên đoàn lao động thành phố Dĩ An;

2. Bà Hoàng Lệ Chi – Giáo viên hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 155/2023/TLST-LĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST-LĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị H, sinh năm 1990; thường trú: Thôn V, xã Đ, huyện Th, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú: Tổ 57, đường Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Công ty P; (Trước đây là Công ty TNHH J); địa chỉ: Số 2A, Đường số 8, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Bà Long Lệ Dung, sinh năm 1981, nhân viên nhân sự của Công ty P là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 12/12/2023). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Hồ Thị Trang, sinh năm 1994; địa chỉ: Ấp S, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

+ Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An; địa chỉ: Đường T, trung tâm hành chính thành phố D, tỉnh Bình Dương;

Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn Trắng - Chuyên viên Bảo hiểm xã hội thành phố D là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 04/12/2023). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt, nhưng theo đơn khởi kiện đề ngày 13/11/2023 lời khai trong quá trình tố tụng chị Hồ Thị H trình bày:

Từ tháng 10/2007 đến tháng 5/2022, chị H làm việc tại Công ty TNHH Y, địa chỉ khu phố Thống Nhất 1, phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và có tham gia bảo hiểm xã hội đầy đủ. Nay chị H đến bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An để điều chỉnh thông tin thì được biết hồ sơ bảo hiểm của chị bị trùng lặp. Do không hiểu biết pháp luật nên vào tháng 4/2011 chị H có cho em ruột tên Hồ Thị Tr, sinh năm 1994; địa chỉ: Ấp S, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai mượn chứng minh nhân dân của chị H số 183759428, do Công an tỉnh Hà Tĩnh cấp năm 2006 để giao kết hợp đồng lao động với Công ty P. Lý do chị H cho chị Tr mượn chứng minh nhân dân là vì thời điểm tháng 4/2011 chị Tr chưa đủ 18 tuổi. Mặt khác hoàn cảnh gia đình khó khăn, cần có công việc để tăng thu nhập phụ giúp gia đình. Chị Hồ Thị Tr đã sử dụng thông tin cá nhân của chị H để ký kết hợp đồng lao động với Công ty P từ tháng 04/2011 đến tháng 12/2011 thì nghỉ việc tại Công ty.

Sau khi biết số chứng minh nhân dân của chị H có thời gian đóng bảo hiểm bị trùng lặp tại Công ty P, thời gian trùng từ tháng 4/2011 đến tháng 12/2011, chị H nhiều lần liên hệ với Bảo hiểm xã hội Dĩ An để được giải quyết. Tuy nhiên, Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An đã hướng dẫn chị H khởi kiện ra Tòa án.

Việc cho người khác sử dụng chứng minh của chị H để tham gia bảo hiểm dẫn đến trùng lặp thời gian đóng bảo hiểm, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị H. Vì vậy, chị H yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị (do chị Hồ Thị Tr mượn tên) với Công ty P, thời gian làm việc từ tháng 4/2011 đến tháng 12/2011 là vô hiệu do người ký kết hợp đồng không phải là chị H. Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Việc cho người khác sử dụng chứng minh nhân dân của mình để làm việc tại Công ty P dẫn đến việc trùng lặp quá trình đóng bảo hiểm xã hội là do lỗi của chị H. Do đó chị H tự nguyện chịu toàn bộ án phí lao động sơ thẩm.

- Người đại diện hợp pháp của bị đơn chị Long Lệ D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, nhưng tại bản tự khai và lời khai trong quá trình tố tụng bà D trình bày:

Qua tìm hiểu tại bộ phận quản lý nhân sự của Công ty P (trước đây là Công ty TNHH J) thì được biết chị Hồ Thị H có làm việc tại công ty. Tuy nhiên, hồ sơ lao động của chị H hiện công ty không còn lưu giữ nên không thể cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Do không còn lưu giữ nên Công ty P không biết chị H giao kết hợp đồng lao động với công ty từ thời gian nào và thời gian bao lâu.

Việc chị Tr mượn hồ sơ của chị H để tham gia ký kết hợp đồng lao động với Công ty P thì thời điểm tuyển dụng công ty không phát hiện được việc người lao động sử dụng hồ sơ giả. Nay nguyên đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động (thời gian làm việc từ tháng 4/2011 đến tháng 12/2011) giữa chị Hồ Thị H và Công ty P vô hiệu thì bị đơn không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định của pháp luật. Đối với hậu quả của hợp đồng vô hiệu, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An là ông Dương Văn Tr có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, tuy nhiên tại bản tự khai ngày 22/11/2023 và lời khai trong quá trình tố tụng, ông Tr trình bày:

Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH J (nay là Công ty P) cho người lao động thì Công ty Pungkook Sài Gòn cho tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho chị Hồ Thị H, sinh ngày 10/9/1990, CMND số xxxxxxxxx với mã số BHXH 7411104087 từ tháng 4/2011 đến tháng 12/2011 chưa nhận trợ cấp BHXH và BHTN. Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của chị H thì cơ quan Bảo hiểm xã hội không lưu trữ. Đối với các yêu cầu của chị H, Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An không có ý kiến.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hồ Thị Tr có yêu cầu giải quyết vắng mặt, tuy nhiên tại bản tự khai ngày 15/12/2023, chị Tr trình bày:

Chị Hồ Thị Tr là em ruột của chị Hồ Thị H. Vào năm 2011, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, cần công việc để kiếm thu nhập nhưng thời điểm đó chị Tr chưa đủ 18 tuổi nên không xin được việc. Vì vậy, chị Tr có nhờ chị H cho mượn chứng minh nhân dân để xin việc tại Công ty P (trước đây là Công ty TNHH J). Năm 2011 chị Tr xin tuyển dụng vào làm việc tại Công ty P, với vị trí là công nhân từ tháng 4/2011 đến tháng 12/2011 thì xin nghỉ việc. Công ty P có đóng bảo hiểm xã hội cho chị Tr từ tháng 4/2011 đến tháng 12/2011. Do thời gian nghỉ việc đã quá lâu, chị Tr không còn giữ hợp đồng lao động hay bảng lương nên không còn chứng cứ để cung cấp cho Tòa án.

Do thiếu hiểu biết pháp luật nên chị Tr đã sử dụng chứng minh nhân dân của chị H để tham gia Hợp đồng lao động với Công ty P. Thời điểm, Công ty P ký hợp đồng lao động với chị Tr do chị Tr sử dụng hình của chị Tr dán vào chứng minh nhân dân của chị H nên Công ty P không biết chị Tr sử dụng giấy tờ của chị H để xin việc. Nay chị Tr đã chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty P và không tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 12/2011 cho đến nay. Thời điểm chị Tr mượn chứng minh nhân dân của chị H để xin việc ở Công ty P thì chị Hồ Thị H đang làm việc tại Công ty TNHH Y, địa chỉ khu phố Thống Nhất 1, phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Chị H làm việc tại Công ty TNHH Y từ tháng 10/2007 đến tháng 5/2022 mới nghỉ việc.

Sau khi nghỉ việc, chị H không làm thủ tục để điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội được vì bị trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội của chị Tr từ tháng 4/2011 đến tháng 12/2011. Vì vậy, chị H khởi kiện yêu cầu tuyên Hợp đồng lao động (từ tháng 4/2011 đến tháng 12/2011) giữa chị Hồ Thị H (do chị Tr mượn chứng minh nhân dân của chị H ký hợp đồng lao động) với Công ty P là vô hiệu thì chị Tr đồng ý. Sau khi chị Tr nghỉ việc thì quyền lợi và nghĩa vụ của chị Tr với Công ty P chấm dứt nên chị Tr không yêu cầu giải quyết hậu quả của Hợp đồng lao động vô hiệu.

Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử đến khi tiến hành phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự, đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định, không vi phạm pháp luật tố tụng dân sự. Phát biểu quan điểm về nội dung vụ án: xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về tố tụng:

Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Hồ Thị H, đại diện hợp pháp của bị đơn bà Long Lệ D, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hồ Thị Tr và người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An là ông Dương Văn Trắng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ tranh chấp và xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự trong vụ án: Nguyên đơn chị H khởi kiện Công ty P, địa chỉ: Số 2A, Đường số 8, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 68 BLTTDS Tòa án xác định bị đơn là Công ty P. Tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An theo quy định tại khoản 5 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2019.

Các bên không cung cấp được tài liệu, chứng cứ là Hợp đồng lao động giữa Công ty P và chị Hồ Thị H. Tuy nhiên, Công ty P thừa nhận có ký kết Hợp đồng lao động và có tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động Hồ Thị Huyền nhưng thời gian đã lâu nên không còn lưu trữ. Như vậy, thực tế có tồn tại Hợp đồng lao động giữa Công ty P và người lao động có thông tin Hồ Thị Huyền. Đây là tài liệu, chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Quá trình tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động Hồ Thị Huyền như sau:

Mã số bảo hiểm xã hội 9107240980: từ tháng 10/2007 đến tháng 5/2022 tại Công ty TNHH Y.

Mã số bảo hiểm xã hội 7411104087: từ tháng 4/2011 đến tháng 12/2011 tại Công ty P (trước đấy là Công ty TNHH J).

Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy: Chị Hồ Thị H ký kết hợp đồng lao động Công ty TNHH Y và làm việc từ tháng 10/2007 đến tháng 5/2022 và được Công ty tham gia BHXH, BHYT, BHTN đầy đủ thể hiện tại sổ bảo hiểm xã hội số 9107240980.

Bị đơn Công ty P xác nhận có ký kết hợp đồng lao động với người lao động có tên Hồ Thị H và có tham gia BHXH, BHTN cho người lao động từ tháng 4/2011 đến tháng 12/2011 thì chị H nghỉ việc tại công ty. Hiện hồ sơ lao động của chị H công ty không còn lưu trữ. Việc chị Tr mượn hồ sơ của người khác để tham gia ký kết hợp đồng lao động với Công ty P thì thời điểm tuyển dụng Công ty không phát hiện được việc người lao động sử dụng hồ sơ giả.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hồ Thị Tr xác nhận: Do thiếu hiểu biết pháp luật và hoàn cảnh gia đình khó khăn, mong muốn có thu nhập để giúp đỡ gia đình nên chị Tr có mượn giấy tờ tùy thân của chị H để tham gia ký kết hợp đồng lao động với Công ty P từ tháng 4/2011 cho đến tháng 12/2011 thì nghỉ việc tại công ty.

Việc chị Tr sử dụng chứng minh nhân dân, thông tin của chị H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty P là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994. Do đó việc chị Hồ Thị H yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động giữa chị Hồ Thị H (do chị Hồ Thị Tr mượn tên) với Công ty P là có căn cứ theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Nguyên đơn chỉ yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, ngoài ra không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì trong vụ án. Đây là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Tòa án không xem xét giải quyết về hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Sau khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Như vậy, Công ty P và Công ty TNHH Y cùng tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động có tên Hồ Thị Huyền từ tháng 4/2011 đến tháng 12/2011. Tuy nhiên, thực tế chị H chỉ làm việc tại Công ty TNHH Y không làm việc tại Công ty P. Do đó, hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty P với chị Hồ Thị H là vô hiệu như những phân tích ở trên.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.

Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị H.

Án phí lao động sơ thẩm: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ án phí nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 5, 32, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 127 và Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994; Điều 50 và Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị H về việc tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Hồ Thị H và Công ty P (thời gian làm việc từ tháng 4/2011 đến tháng 12/2011) vô hiệu.

2. Án phí lao động sơ thẩm: Chị Hồ Thị H chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí lao động sơ thẩm, khấu trừ toàn bộ vào tạm ứng án phí chị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001262 ngày 23/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An.

3. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ