- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Lương Thị Dung - Nguyễn Đức Hùng"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị D
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢM’GAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/DS- ST Ngày 14/02/2023 “V/v: Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢ M’GAR, TỈNH ĐĂK LĂK
Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Y Lợi Niê
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Duy Thanh, ông Y Tha Mlô
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Vũ Đức Đuống –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 173/2022/TLST-DS, ngày 27 tháng 5 năm 2022, về việc “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2022/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 12 năm 2022, quyết đinh hoãn phiên tòa số 83/2022/QĐHPT-DS ngày 20 tháng 12 năm 2022, thông báo thay đổi lịch xét xử lần 01 số 03/2023/TB-TA ngày 10/01/2023 và thông báo thay đổi lịch xét xử lần 02 số 06/2023/TB-TA ngày 06/02/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lương Thị D
(Có mặt)
Địa chỉ: Số nhà 118 – thôn 7, xã Hòa Kh, Tp. B M Th, tỉnh Đ L
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức H
(Vắng mặt)
Địa chỉ: Buôn KN, xã C Đ, huyện CM’g, tỉnh Đ Lăk.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa bà Lƣơng Thị D trình bày:
Vào ngày 04/8/2018 bà Nguyễn Thị Ánh T dẫn Nguyễn Đức H và một thanh niên khác đến nhà tôi để đòi số tiền tôi nợ bà T 5.000.000đ. Tại đây, sau khi lời qua tiếng lại với bà T, ông H đã xông vào dùng tay đấm tôi vào vùng mặt, làm cho tôi bị chảy máu miệng, thấy tôi chảy máu nhiều nên người nhà tôi đưa tôi đi bệnh viện điều trị. Hậu quả của hành vi do ông H gây ra làm cho tôi bị lung lây 02 cái răng cửa, bị rách phần mềm, khâu hơn 10 mũi và thương tật với tỷ lệ 10%. Sau khi sự việc xẩy ra công an mời hai bên lên giải quyết nhưng không thông nhất được mức bồi thường nên tôi làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông H phải bồi thường số tiền 69.732.000đ, cụ thể:
- Tiền xe taxi từ nhà đến bệnh việc đa khoa tỉnh Đăk Lăk 04 vòng x 200.000đ = 800.000 đồng.
- Tiền công lao động bị mất: 25 ngày x 400.000đ = 10.000.000 đồng.
- Tiền công người chăm sóc: 05 ngày x 400.000đ = 2.000.000 đồng
- Tiền bồi dưỡng sức khỏe: 7.000.000 đồng
- Tiền thuốc: 2.132.000 đồng
- Tiền thay răng sứ: 17.000.000 đồng
- Tiền xe đí thay răng sứ: 1.000.000 đồng
- Tiền tổn thất tinh thần: 1.490.000đ x 20 tháng = 29.800.000 đồng
* Tại bản tự khai ngày 17/6/2022 (Bút lục 33) bị đơn ông Nguyễn Đức H trình bày:
Vào ngày 04/8/2018 tôi có đến nhà bà T chơi và nghe bà T nói lại việc bà D nợ tiền bà T 7.000.000đ không chịu trả mà còn có hành vi đánh bà T nữa, nghe vây tôi cùng bà T đến nhà bà D xem sự việc như thế nào, đến nơi tôi thấy giữa bà D và bà T xẩy ra xô xát, tôi nhảy vào can và có tác động nhẹ vào mặt bà D dẫn đến chảy máu miệng. Sau đó bà D được người nhà đưa đi bệnh viện, còn tôi với bà T bị công an mời lên làm việc. Sau khi sự việc xẩy ra, tôi với bà D cóp thương lượng bồi thường, nhưng bà D yêu cầu quá cao so với hành vi tôi gây ra nên hai bên không thống nhất được. Nay bà D khởi kiện yêu cầu tôi bồi thường số tiền 69.732.000 đồng là quá cao, tôi chỉ đồng ý bồi thường số tiền khoảng 10.000.000 đồng.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử, Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định tại các Điều 26 đến Điều 40; Điều 68; Điều 93 đến Điều 97; Điều 195; Điều 196 và Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với đương sự:
Nguyên đơn: Thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70; Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn: Thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70; Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Về quan hệ pháp luật tranh chấp đây là quan hệ về tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015;
Ông Nguyễn Đức H đã xâm phạm trái pháp luật đến sức khỏe của bà Lương Thị D là có trên thực tế, bà D khởi kiện là có căn cứ. Tuy nhiên với tỉ lệ thương tật của bà D cùng với các hóa đơn chứng từ mà bà cung cấp cho tòa án thì mức yêu cầu bồi thường thiệt hại là quá cao cho nên đề nghị HĐXX xem xét, tính lại và chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngày 04/8/2018 ông Nguyễn Đức H dùng tay đấm vào vùng mặt bà Lương Thị D làm cho bà D bị lung lây hai cái răng. Giữa ông H và ông bà D không thỏa thuận được việc bồi thường nên bà D làm đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Ông Nguyễn Đức H có hộ khẩu tại xã C Đ, huyện C Mg, tỉnh Đ L. Do đó, căn cứ vào khoản 6 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyên C Mg nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về tố tụng: Tại phiên tòa ông Nguyễn Đức H mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dụng vụ án: Căn cứ vào lời khai của các đương sự và các tài liệu chứng cứ đã thu thập và có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định:
Vào ngày 04/8/2018, tại thôn 7, xã H Kh, thành phố BMT ông Nguyễn Đức H có hành vi dung tay đấm vào vùng mặt của bà Lương Thị D, làm cho bà D chảy máu miệng phải đưa đi bệnh viện điều trị. Ông H cũng thừa nhận là có hành vi tác động vào mặt của bà D. Vì vậy bà Lương Thị D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Đức H bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là có căn cứ.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn bà Lương Thị D yêu cầu bồi thường số tiền 69.732.000 đồng là quá cao, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp về tỷ lệ thương tích (lời khai 10%) và các khoản chi hợp lý cho điều trị, chi phí đi lại, ngày công, bồi dưỡng, bù đắp về tinh thần theo quy định của Bộ luật dân sự làm cơ sở cho việc bồi thường thiệt hại, cụ thể:
+ Tiền xe đi lại từ nhà lên bệnh viện đa khoa tỉnh 04 vòng x 200.000đ = 800.000 đồng và tiền xe đi thay răng sứ tại Gia Nghĩa khứ hồi 500.000đ x 02 lượt = 1.000.000 đồng, tổng cộng 1.800.000 đồng;
+ Tiền công không lao động được: Thời gian điều trị 10 ngày x 300.000đ = 3.000.000đ và thời gian sau ngày điều trị 15 ngày x 300.000đ = 4.500.000đ, tổng cộng 7.500.000 đồng;
+ Tiền bồi dưỡng sức khỏe (mua thuốc bổ và tẩm bổ) là 5.000.000 đồng.
+ Tổn thất về tinh thần (theo lời khai tỷ lệ thương tật 10%), tương đương với 03 tháng lương cơ bản = 5.000.000 đồng.
+ Tiền thuốc ngoài theo chỉ định của bệnh viện, bà D yêu cầu là 2.132.000đ. Tuy nhiên, bà D cung cấp hóa đơn tiền thuốc và các chi phí khác là 1.693.000đ nên chấp nhận số tiền 1.693.000 đồng.
+ Thay răng sứ có hóa đơn: 17.000.000 đồng
Tổng số tiền là: 37.993.000 đồng
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên ông Nguyễn Đức H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 37.993.000đ x 5% = 1.899.650 đồng (Làm tròn 1.899.000đ).
Bà Lương Thị D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 186, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Áp dụng Nghị quyết 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị D
Buộc ông Nguyễn Đức H phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Lương Thị D số tiền 37.993.000 đồng.
Áp dụng khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 để tính lãi suất trong giai đoạn thi hành án khi người được thi hành án có đơn yêu cầu.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Đức H phải chịu 1.899.650 đồng (Làm tròn 1.899.000đ) án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đăk Lăk; - TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND huyện Cư M’gar; - CCTHA huyện Cư M’gar; - Các đương sự; - Lưu HS, VPCQ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Y Lợi Niê |