- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khởi kiện quyết định hành chính"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Bác kháng cáo của người khởi kiện Hồ Thị Thanh S. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 16 Thông tư số 35/2014/TT-BCA Quy định chi tiết thi hành một số…; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Điều 30 Luật cư trú
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2019/HC-PT Ngày: 26 - 7- 2019 V/v “Khởi kiện quyết định hành chính” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Minh.
Các Thẩm phán: Ông Lê Quốc Ly và ông Nguyễn Hữu Trúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Ninh Thị Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 04/2019/TLPT-HC ngày 22 tháng 4 năm 2019 về việc “Khởi kiện quyết định hành chính”.
Do bản án hành chính sơ thẩm số 01/2018/HCST ngày 10 tháng 12 năm 2018 của Toà án nhân dân thị xã S bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 03/2019/QĐ-PT ngày 07 tháng 06 năm 2019, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Hồ Thị Thanh S – sinh năm 1964; nơi cư trú: Số 27, đường T, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị kiện: Trưởng Công an phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Đinh Hồ Xuân S – sinh năm 1993;
2. Ông Đinh Hồ Thanh S – sinh năm 1994;
Đều trú tại: Số 27, đường T, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Đều vắng mặt tại phiên tòa.
Người kháng cáo: Người khởi kiện bà Hồ Thị Thanh S.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Người khởi kiện bà Hồ Thị Thanh S trình bày:
Bà Hồ Thị Thanh S khởi kiện Trưởng công an phường X, thị xã S không cấp tạm trú cho bà và con là Đinh Hồ Xuân S theo thông báo số 29/TBCAP ngày 28/5/2018.
Hồ sơ đăng ký tạm trú có bản án số 39/2017/DS-PT ngày 23/6/2017 của TAND cấp cao Đà Nẵng chứng minh chỗ ở hợp pháp tại khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên từ năm 2004 đến nay. Do đó, trưởng công an phường X, thị xã S căn cứ khoản 3 Điều 30 Luật cư trú, Điều 6 Nghị định 31/2014/NĐ-CP ngày 18/4/2014 của Chính Phủ, điểm b, Điều 16 thông tư 35/2014/TT-BCA ngày 09/9/2014 của Bộ công an để không cấp sổ tạm trú cho bà với lý do không có chỗ ở hợp pháp và không sinh sống, làm việc, học tập tại địa điểm cư trú là không có căn cứ. Thông báo số 29/TBCAP ngày 28/5/2018 của Trưởng Công an phường X làm bà S không thể kinh doanh được, gây thiệt hại, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà S. Do đó, bà S khởi kiện yêu cầu Tòa án Hủy thông báo số 29/TBCAP ngày 28/5/2018 của Trưởng công an phường X; Buộc Công an phường X phải cấp sổ tạm trú cho bà S theo quy định pháp luật; Yêu cầu trưởng Công an phường X phải bồi thường thiệt hại do hành vi không cấp sổ tạm trú gây ra.
*Người bị kiện Trưởng công an phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên trình bày:
Vào lúc 16 giờ ngày 16/5/2018 Công an phường X có tiếp nhận hồ sơ đăng ký tạm trú của bà Hồ Thị Thanh S, nội dung yêu cầu đăng ký tạm trú (gồm 02 nhân khẩu Hồ Thị Thanh S và Đinh Hồ Thanh S) tại khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký tạm trú của bà S, Công an phường X đã kiểm tra, đối chiếu quy định tại khoản 3, Điêu 30 Luật cư trú, Điều 6 Nghị định 31/2014/NĐ-Cp ngày 18/4/2014 của chính phủ quy đinh chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật cư trú”, biểm b điều 16 Thông tư 35/2014/TT-BCA ngày 09/9/2014 của Bộ công an quy định chi tiết một số điều của Luật cư trú và nghị định 31/2014/NĐ-CP ngày 18/4/2014 của Chính Phủ thì bà S và ông Đinh Hồ Thanh S không đủ điều kiện để cấp sổ tạm trú bởi các lý do:
Bà Hồ Thị Thanh S không có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hợp pháp hoặc giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ; Giấy tờ về quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai; Giấy tờ, tài liệu chứng minh việc thuê, cho mượn, cho ở nhờ chỗ ở hợp pháp là văn bản cho thuê, cho mượn cho ở nhà nhà ở của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Từ ngày 01/01/2015 đến ngày 16/5/2018 bà Hồ Thị Thanh S và ông Đinh Hồ Thanh S không thường xuyên sinh sống tại khu phố L, phường X, thị xã S.
Theo bản án số 39/2017/DS-PT ngày 23/6/2017 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng đã tuyên bố “hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 31/8/2004 giữa DNTN T do bà Hồ Thị Thanh S làm chủ doanh nghiệp và bà Nguyễn Thị N là vô hiệu do vi phạm pháp luật nên không có hiệu lực để thi hành … bà Hồ Thị Thanh S có trách nhiệm tháo dỡ công trình xây dựng trên diện tích đất 71,4m2 trả lại mặt bằng cho bà Nguyễn Thị N.
Do đó, việc không cấp sổ tạm trú cho bà Hồ Thị Thanh S và Đinh Hồ Thanh S là đúng pháp luật.
*Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Hồ Thanh S và Đinh Hồ Xuân S đều thống nhất trình bày như ý kiến bà Hồ Thị Thanh S và xin vắng mặt.
*Tại bản án hành chính sơ thẩm số 01/2018/HCST ngày 10 tháng 12 năm 2018 của Toà án nhân dân thị xã S đã quyết định:
Áp dụng khoản 2 Điều 7 Luật Tố tụng hành chính tách yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi hành chính gây ra của bà Hồ Thị Thanh S để giải quyết sau bằng vụ án dân sự khác theo quy định.
Căn cứ điều 30, 31, điểm b khoản 1 Điều 168, điểm a, khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13.
Tuyên xử: Bác yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Thanh S; không chấp nhận yêu cầu hủy thông báo số 29/TBCAP ngày 28/5/2018 của Trưởng công an phường X; Không chấp nhận yêu cầu buộc Trưởng công an phường X phải cấp sổ tạm trú cho bà Hồ Thị Thanh S cùng Đinh Hồ Xuân S, Đinh Hồ Thanh S.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần án phí và quyền kháng cáo của các bên đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 28 tháng 12 năm 2018, bà Hồ Thị Thanh S kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà, hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà trình bày quan điểm và đề xuất giải quyết vụ án hành chính theo hướng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Xét việc đăng ký tạm trú của bà Hồ Thị Thanh S là chưa đủ điều kiện. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 241 luật tố tụng hành chính, bác yêu cầu kháng cáo của bà Hồ Thị Thanh S, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến trình bày của các bên đương sự, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên. Hội đồng xét xử nhận định:
Người khởi kiện bà Hồ Thị Thanh S kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, hủy bản án sơ thẩm. Đơn kháng cáo gửi trong hạn luật định nên đủ điều kiện giải quyết ở cấp phúc thẩm.
Xét việc bà Hồ Thị Thanh S yêu cầu Công an phường X cấp giấy tạm trú cho bà và con là Đinh Hồ Xuân S, nhưng Trưởng công an phường X ra thông báo số 29/TBCAP ngày 28/5/2018 không chấp nhận yêu cầu của bà S. Do đó, đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính của Trưởng công an phường X ban hành Thông báo số 29/TBCAP ngày 28/5/2018.
Như vậy, TAND thị xã S thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 30, 31 và tuân theo đúng trình tự thủ tục của Luật Tố tụng hành chính.
Theo bản án dân sự số 39/2017/DSPT ngày 23/6/2017 của TAND cấp cao Đà Nẵng thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 31/8/2004 giữa DNTN T do bà Hồ Thị Thanh S làm chủ doanh nghiệp và bà Nguyễn Thị N đối với nhà, đất tọa lạc tại khu phố L, phường X, thị xã S là vô hiệu, do vậy bà S không chứng minh được chỗ ở tại phường X, thị xã S là chưa đảm bảo điều kiện đăng ký tạm trú theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 6 Nghị định 31/2014/NĐ-CP ngày 18/4/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật cư trú quy định giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký thường trú là một trong các loại giấy tờ: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hợp pháp hoặc giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ; Giấy tờ về quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật đất đai; Giấy tờ, tài liệu chứng minh việc cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ chỗ ở hợp pháp là văn bản cho thuê, cho mượn cho ở nhà ở của cơ quan, tổ chức, cá nhân . Xét việc trưởng công an phường X, thị xã S ban hành thông báo số 29/TBCAP ngày 28/5/2018 không chấp nhận đăng ký tạm trú bà Hồ Thi Thanh S và Đinh Hồ Xuân S; Cấp sơ thẩm căn cứ Điều 30 Luật cư trú, Điều 6 Nghị định 31/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật cư trú, điểm b, khoản 1, Điều 16 Thông tư 35/2014/TT-BCA ngày 09/9/2014 của Bộ công an bác yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Thanh S là có căn cứ, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, bác yêu cầu kháng cáo của bà Hồ Thị Thanh S, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các yêu cầu khác bản án sơ thẩm không giải quyết nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bà Hồ Thị Thanh S phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 điều 241 Luật Tố tụng hành chính.
Tuyên xử: Bác kháng cáo của người khởi kiện Hồ Thị Thanh S. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí: Căn cứ Điều 349 Luật tố tụng hành chính; Điều 34 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Người khởi kiện Hồ Thị Thanh S phải chịu án phí hành chính phúc thẩm được trừ vào 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí, tại biên lai thu số AA/2015/0006801 ngày 06/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã S.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Yên (2); - TAND TX S (1); - Chi cục THADS Tx. S (1); - Cục THADS tỉnh (1); - Các đương sự; - P. KTNV&THA (1); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Ngọc Minh |