vanban.org

Bản án 01/2018/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T.

Buộc bà Mai Thị Th phải bồi thường cho bà Trần Thị T số tiền 1.742.000 đồng (một triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn đồng). Không chấp nhận việc bà Trần Thị T yêu cầu bà Mai Thị Th bồi thường số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2018/DS-ST
Ngày: 26-7-2018
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại
do sức khỏe bị xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Hà Bắc;

2. Ông Nguyễn Ngọc Giao.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan Anh – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy tham gia phiên toà: Bà Lâm Thị Tuất - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2018/TLST-DS ngày 08 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2018/QĐXX-ST ngày 07 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị T – sinh năm 1970.

2. Bị đơn: Bà Mai Thị Th – sinh năm 1964.

Đều có địa chỉ: Xóm 13, xã G1, huyện G, tỉnh N.

Tại phiên tòa: Bà T có mặt. Bà Th vắng mặt lần thứ 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/01/2018, bản tự khai và biên bản lấy lời khai ngày 19/3/2018 cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày:

Vào hồi 15 giờ ngày 06/01/2018, bà đi ra ngoài ngõ thì gặp bà Mai Thị Th cùng đứa cháu 03 tuổi đi xem đám cưới về thì bất ngờ bị bà Th túm tóc, đánh liên tiếp vào mặt và cằm khiến bà phải đi bệnh viện huyện Giao Thủy điều trị vết thương 06 ngày. Nay bà đề nghị bà Th phải bồi thường cho bà các khoản tiền sau: Tiền viện phí: 257.000 đồng (hai trăm năm mươi bảy nghìn đồng); tiền nằm viện điều trị 06 ngày: 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng); tiền thuốc: 285.000 đồng (hai trăm tám mươi lăm nghìn đồng); tiền người phục vụ trong 06 ngày nằm viện: 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng). Tổng là 2.342.000 (hai triệu ba trăm bốn mươi hai nghìn đồng).

Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 25/5/2018, UBND xã G1 cung cấp: Sự việc đã được công an xã G1 tổ chức hòa giải ngày 23/01/2018, bà Th thừa nhận có việc đánh bà T, nhận bồi thường về tiền thuốc nhưng không chấp nhận bồi thường tiền công nằm viện và công phục vụ cho người nằm viện. Thu nhập thực tế trung bình tại địa phương là 200.000 đồng/ngày.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là bà Mai Thị Th nhưng bà Th từ chối không nhận văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên Tòa, bà T đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ đối với bà Th nhưng bà Th vắng mặt.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự: Buộc bà Mai Thị Th phải bồi thường cho bà Trần Thị T các khoản tiền sau: Tiền viện phí: 257.000 đồng (hai trăm năm mươi bảy nghìn đồng); tiền nằm viện điều trị 06 ngày: 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng); tiền đơn thuốc: 285.000 đồng (hai trăm tám mươi lăm nghìn đồng). Tổng số tiền là: 1.742.000 đồng (một triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn đồng). Bà Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, tòa án nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm đối với bà Mai Thị Th có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Xóm 13, xã G1, huyện G, tỉnh N. Căn cứ khoản 2 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy. Bà Th vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã được triệu tập hợp lệ, căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án: Vào hồi 15 giờ ngày 06/01/2018, bà Th đã có hành vi xâm hại tới sức khỏe của bà T: túm tóc, đánh liên tiếp vào mặt và cằm bà T khiến bà T phải đi điều trị tại bệnh viện đa khoa huyện Giao Thủy 06 ngày (từ 07/01/2018 đến ngày 12/01/2018). Như vậy, bà T có thiệt hại về sức khỏe, do hành vi trái pháp luật của bà Th gây ra, lỗi hoàn toàn do bà Th nên bà T yêu cầu bà Th phải có trách nhiệm bồi thường cho bà là có căn cứ chấp nhận.

Bà T yêu cầu bà Th phải bồi thường: Tiền viện phí: 257.000 đồng; tiền nằm viện điều trị 06 ngày: 1.200.000 đồng; tiền thuốc: 285.000 đồng. Xét các khoản chi phí trên mà bà T yêu cầu là những chi phí hợp lý và là những thiệt hại thực tế cho việc khám chữa bệnh, phục hồi sức khỏe sau khi bị bà Th xâm phạm về sức khỏe phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án (viện phí, đơn thuốc, biên bản xác minh thu nhập thực tế tại địa phương) và phù hợp với quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự, do đó cần chấp nhận. Buộc bà Th bồi thường cho bà T: Tiền viện phí: 257.000 đồng; tiền nằm viện điều trị 06 ngày (thu nhập thực tế bị mất): 1.200.000 đồng (200.000đ/ngày x 06 ngày); tiền đơn thuốc: 285.000 đồng. Tổng số tiền là: 1.742.000 đồng.

Theo phần chuẩn đoán vết thương, bà T bị chấn thương mắt phải và cằm. Do thương tích bà Th gây ra cho bà T không lớn, có thể tự đi lại chăm sóc bản thân vì vậy không cần thiết phải có người thường xuyên chăm sóc. Do đó, việc bà T yêu cầu bà Th bồi thường tiền công người phục vụ trong 06 ngày là 600.000 đồng là không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Mai Thị Th phải chịu án phí là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 584, 585,586, 590, khoản 2 Điều 428 Bộ luật dân sự; Điều 147, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T.

Buộc bà Mai Thị Th phải bồi thường cho bà Trần Thị T số tiền 1.742.000 đồng (một triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn đồng).

2. Không chấp nhận việc bà Trần Thị T yêu cầu bà Mai Thị Th bồi thường số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Mai Thị Th phải chịu án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Mai Thị Th vắng mặt thì thời hạn kháng cáo bản án tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì những người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ