Điều 14. Phối hợp trong giai đoạn truy tố
1. Trong giai đoạn truy tố, nếu Viện kiểm sát phát hiện có dấu hiệu tội phạm hoặc người phạm tội mới nhưng không liên quan đến vụ án đang giải quyết mà thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra trong Quân đội hoặc ngoài Quân đội, thì trong thời hạn 03. ngày, kể từ ngày có căn cứ xác định, Viện kiểm sát ban hành văn bản yêu cầu, gửi kèm hồ sơ, tài liệu (bản chính hoặc bản sao y), đồ vật, tài sản có liên quan đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật, đông thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
2. Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát trong hoặc ngoài Quân đội xác định vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình thì thực hiện chuyển vụ án theo quy định tại Điều 239 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật có liên quan. Trước khi ban hành quyết định chuyển vụ án, Viện kiểm sát trao đổi, thống nhất bằng văn bản với Viện kiểm sát có thẩm quyền. Trường hợp có vướng mắc, tranh chấp về thẩm quyền giải quyết vụ án, Viện kiểm sát đang giải quyết vụ án chủ động tổ chức họp với Viện kiểm sát có liên quan trao đổi, thống nhất thẩm quyền; nếu không thống nhất được thì cùng báo cáo Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định.
3. Các trường hợp chuyển vụ án giữa Viện kiểm sát quân sự và Viện kiểm sát nhân dân để truy tố theo thẩm quyền, trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày kết thúc giải quyết vụ án trong giai đoạn truy tố thì Viện kiểm sát nhận vụ án có trách nhiệm thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết vụ án trong giai đoạn truy tố cho Viện kiểm sát đã chuyển vụ án.