vanban.org

Điều 12. Phối hợp trong các trường hợp bắt, khám xét, tạm giữ, tạm giam, áp giải, dẫn giải và các hoạt động tố tụng khác — Thông tư liên tịch 07/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BQP-BCA-BTC-BNN&MT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 05/12/2025 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Dòng đời phiên bản 2 đời thông tư liên tịch · 3 phiên bản · 17 năm
Thông tư liên tịch 07/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BQP-BCA-BTC-BNN&MT quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong Quân đội và ngoài Quân đội trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự · 07/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BQP-BCA-BTC-BNN&MT
05/12/2025Bản gốcThay thế Hiện hành
Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BQP-BCA Về quan hệ phối hợp trong một số hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong Quân đội và ngoài Quân đội do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Quốc phòng - Bộ Công an ban hành · 01/2008/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BQP-BCA
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư liên tịch 07/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BQP-BCA-BTC-BNN&MT › Chương II › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Phối hợp trong các trường hợp bắt, khám xét, tạm giữ, tạm giam, áp giải, dẫn giải và các hoạt động tố tụng khác

1. Cơ quan có thẩm quyền trong Quân đội và ngoài Quân đội bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã, áp giải, dẫn giải, khám xét, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản thực hiện theo quy định tại các điều 110, 111, 112, 114, 115, 116, 127, 128, 129, 194 và 195 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Khi thực hiện lệnh bắt, khám xét, áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản hoặc các hoạt động tố tụng khác nếu cần sự phối hợp của Cơ quan điều tra hoặc các đơn vị Quân đội, Công an và tổ chức, cá nhân có liên quan thì cơ quan đang giải quyết vụ án phải đề nghị và thống nhất với các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân về nội dung, biện pháp phối hợp. Khi nhận được đề nghị, cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân được đề nghị có trách nhiệm phối hợp, bảo đảm an toàn, hiệu quả.

2. Trường hợp cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã và đã ra quyết định tạm giữ theo quy định của pháp luật thì người bị tạm giữ được đưa vào cơ sở giam giữ của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân nơi gần nhất.

3. Cơ quan điều tra và các cơ quan, đơn vị liên quan của Quân đội và Công an phải phối hợp chặt chẽ trong thực hiện việc bắt bị can, bị cáo theo quyết định truy nã. Trường hợp Cơ quan điều tra trong Quân đội ra quyết định truy nã bị can, bị cáo, thì phải trực tiếp làm việc với cơ quan chức năng của Công an và với Viện kiểm sát theo quy định để có biện pháp truy nã, bắt giữ đối tượng. Khi đối tượng truy nã bị bắt giữ, cơ quan Công an thông báo, làm thủ tục bàn giao người bị bắt để Cơ quan điều tra đã quyết định truy nã ra quyết định đình nã và tiếp tục giải quyết vụ án.

Định kỳ hằng tháng, 06 tháng, 01 năm, các Cơ quan điều tra trong Quân đội thông báo số lượng đối tượng có quyết định truy nã chưa bắt được và đã đình nã cho Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng để tổng hợp, thông báo cho Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an (cơ quan chuyên trách về truy bắt đối tượng truy nã) biết và thực hiện thống kê hình sự.

4. Cơ sở giam giữ của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân phải phối hợp và tạo điều kiện trong việc gửi, nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ trong Quân đội và ngoài Quân đội có trách nhiệm phối hợp quản lý, trích xuất, điều chuyển, giải quyết cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của pháp luật.