vanban.org

Điều 9. Hồ sơ đề nghị miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ — Thông tư liên tịch 04/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 26/11/2021 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/03/2025 Sửa đổi, bổ sung: 01/2025/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BQP · 30/06/2025
Dòng đời phiên bản 2 đời thông tư liên tịch · 4 phiên bản · 14 năm
Thông tư liên tịch số 04/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP Quy định phối hợp trong thực hiện trình tự, thủ tục giảm thời hạn, miễnchấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú, quản chế còn lại · 04/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP
01/03/202501/2025/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BQPSửa đổi Hiện hành 26/11/2021Bản gốcThay thế
Thông tư liên tịch số 09/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC Hướng dẫn việc giảm, miễn thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú, quản chế còn lại · 09/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư liên tịch 04/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP › Chương III › Điều 9
Đọc toàn văn

Điều 9. Hồ sơ đề nghị miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ

1. Đơn xin miễn chấp hành án của người bị kết án hoặc người đại diện hợp pháp theo quy định pháp luật. Trường hợp người bị kết án không thể tự mình làm đơn đề nghị thì người thân thích của người bị kết án hoặc đại diện cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án làm việc đề nghị thay.

3. Trường hợp người bị kết án phạt cải tạo không giam giữ lập công thì hồ sơ phải có quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người chấp hành án lập công (Ví dụ: Giấy khen, Bằng khen, Bằng sáng chế hoặc Bằng độc quyền sáng chế của cơ quan, người có thẩm quyền).

Thay cụm từ/đính chính bởi 01/2025/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BQP · hiệu lực 01/03/2025

4. Trường hợp người bị kết án phạt cải tạo không giam giữ bị bệnh hiểm nghèo thì hồ sơ phải có kết luận của Hội đồng giám định y khoa hoặc bản sao bệnh án, kết luận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp chuyên sâu hoặc bệnh viện cấp quân khu trở lên hoặc có kết luận của tổ chức pháp y công lập về tình trạng bệnh tật của người bị kết án.

Đối với người bị kết án phạt cải tạo không giam giữ bị nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn lâm sàng IV thì phải có kết quả xét nghiệm bị nhiễm HIV theo quy định của Bộ Y tế và bản sao bệnh án hoặc kết luận của cơ quan y tế có thẩm quyền khẳng định đã chuyển giai đoạn lâm sàng IV, đang có nhiễm trùng cơ hội và tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao.

5. Trường hợp người bị kết án phạt cải tạo không giam giữ chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì phải có xác nhận, nhận xét của cơ quan có thẩm quyền.

6. Tài liệu khác có liên quan.