Điều 9. Phối hợp thực hiện quản lý phạm nhân và trao đổi thông tin trong thời gian trích xuất
1. Trường hợp phạm nhân được trích xuất với tư cách là bị can, bị cáo trong vụ án đang điều tra, truy tố, xét xử mà có lệnh, quyết định tạm giam của cơ quan có thẩm quyền thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất bố trí giam trong buồng tạm giam của trại tạm giam, phân trại tạm giam và thực hiện chế độ quản lý giam giữ, chế độ ăn, ở, sinh hoạt của người bị tạm giam đối với phạm nhân được trích xuất theo quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú và các quy định của pháp luật có liên quan.
Trường hợp phạm nhân được trích xuất với tư cách là bị can, bị cáo mà cơ quan tiến hành tố tụng không áp dụng biện pháp tạm giam (không có lệnh, quyết định tạm giam) theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì bố trí giam tại buồng giam người đang chờ chấp hành án phạt tù trong phân trại tạm giam của trại tạm giam (không giam chung với người đang chờ chấp hành án phạt tù khác) và thực hiện chế độ của người bị tạm giam theo quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú và các quy định của pháp luật có liên quan.
2. Trường hợp phạm nhân được trích xuất không phải là bị can, bị cáo trong vụ án đang điều tra, truy tố, xét xử thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất bố trí quản lý giam giữ và thực hiện chế độ đối với phạm nhân được trích xuất như sau:
a) Trường hợp phạm nhân có mức án tù từ 05 năm trở xuống thì bố trí giam tại buồng quản lý phạm nhân trong phân trại tạm giam, phân trại quản lý phạm nhân của trại tạm giam (không giam chung với phạm nhân đang chấp hành án);
b) Trường hợp phạm nhân có án phạt tù trên 05 năm được trích xuất không phải là bị can, bị cáo trong vụ án đang được điều tra, truy tố, xét xử thì bô trí giam tại buồng giam người đang chờ chấp hành án phạt tù trong phân trại tạm giám của trại tạm giam (không giam chung với người đang chờ chấp hành án phạt tù khác).
3. Chậm nhất 07 ngày làm việc trước khi hết thời hạn trích xuất, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 10 của Thông tư liên tịch này, cơ sở giam giữ đang quản lý giam giữ phạm nhân được trích xuất phải thông báo ngày hết thời hạn trích xuất cho cơ quan đã đề nghị trích xuất để làm thủ tục gia hạn trích xuất đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 7 của Thông tư liên tịch này.
4. Trường hợp trong thời gian trích xuất, phạm nhân được trích xuất điều chuyển đến cơ sở giam giữ khác theo quyết định điều chuyển người bị tạm giữ, tạm giam của thủ trưởng cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú có thẩm quyền để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự đã đề nghị trích xuất phạm nhân ban đầu phải có văn bản thông báo cho cơ quan đã ra lệnh trích xuất, cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất và Viện kiểm sát cùng cấp.
Chậm nhất 05 ngày làm việc trước khi hết thời hạn trích xuất, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự đã đề nghị trích xuất phạm nhân ban đầu phải gửi thông báo cho thủ trưởng cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú nơi tiếp nhận phạm nhân được trích xuất điều chuyển đến để làm thủ tục điều chuyển phạm nhân đó trả lại cơ sở giam giữ nơi nhận phạm nhân trích xuất ban đầu trước khi hết thời hạn trích xuất.
Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc yêu cầu cấp thiết để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử không thể điều chuyên phạm nhân được trích xuất ban đầu trước khi hết thời hạn trích xuất, thủ trưởng cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú nơi tiếp nhận phạm nhân được trích xuất điều chuyển đến phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do. Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự đề nghị trích xuất phạm nhân ban đầu phải làm thủ tục đề nghị gia hạn trích xuất theo điểm d khoản 1 Điều 7 của Thông tư liên tịch này.
5. Trường hợp phạm nhân được trích xuất để xét xử vê tội khác mà bản án mới bị xét xử chưa có hiệu lực pháp luật thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất tiếp tục giam giữ đến khi có quyết định thi hành án mới của Tòa án. Trong thời gian chờ quyết định thi hành án mới của Tòa án mà thời hạn trích xuất đã hết thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu làm thủ tục đề nghị gia hạn trích xuất theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7 của Thông tư liên tịch này.
6. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn trích xuất, gia hạn trích xuất, cơ quan đã giao phạm nhân trích xuất chưa nhận được phạm nhân trích xuất trả lại để tiếp tục chấp hành án theo quy định tại khoản 8 Điều 38 của Luật Thi hành án hình sự và không nhận được lệnh gia hạn trích xuất hoặc thông báo của cơ quan đã nhận phạm nhân được trích xuất về lý do phạm nhân được trích xuất chưa trả lại để tiếp tục chấp hành án thì cơ quan đã giao phạm nhân trích xuất có trách nhiệm gửi thông báo đến cơ quan đã nhận phạm nhân được trích xuất, cơ quan đã ra lệnh trích xuất, Viện kiểm sát nhân dân nơi cơ quan đã giao phạm nhân trích xuất có trụ sở, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 38 của Luật Thi hành án hình sự.
7. Trường hợp trong thời gian trích xuất, phạm nhân được trích xuất trốn khỏi nơi giam hoặc chết thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải thông báo ngay cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền để phối hợp tiến hành các thủ tục giải quyết theo quy định của pháp luật và thông báo bằng văn bản cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan đã ra lệnh trích xuất, nơi giao phạm nhân trích xuất và cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng.