vanban.org

Điều 5. Thủ tục đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân — Thông tư liên tịch 03/2026/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/07/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư liên tịch 03/2026/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Thủ tục đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân

1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân, nếu không thuộc thẩm quyền ra lệnh trích xuất, cơ quan thi hành án hình sự phải gửi văn bản đề nghị trích xuất phạm nhân kèm theo bản sao văn bản yêu cầu trích xuất của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đến cơ quan có thẩm quyền ra lệnh trích xuất phạm nhân để ra lệnh trích xuất. Khi gửi văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra lệnh trích xuất, cơ quan thi hành án hình sự phải thông báo cho cơ quan có yêu cầu trích xuất biết.

2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu khi nhận được văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nếu không thuộc thẩm quyền ra lệnh trích xuất phạm nhân thì thực hiện việc đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân như sau:

a) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an thì gửi văn bản đề nghị trích xuất đến thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an;

b) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng;

c) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam thuộc Công an tỉnh khác quản lý thì gửi văn bản đề nghị trích xuất đến thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh đó ra lệnh trích xuất phạm nhân;

d) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam cấp quân khu khác thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đó để ra lệnh trích xuất phạm nhân.

3. Trường hợp nhận được yêu cầu trích xuất đối với phạm nhân nữ có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng nơi chấp hành án, cơ quan nhận được yêu cầu trích xuất phải có văn bản thông báo lại cho cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã yêu cầu trích xuất biết về việc phạm nhân đó có con dưới 36 tháng tuổi, và nơi chấp hành án để xem xét cân nhắc việc trích xuất phạm nhân

4. Trường hợp nhận được văn bản đề nghị trích xuất phạm nhân mà phạm nhân đó đã trích xuất đến cơ sở giam giữ khác để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử theo đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì cơ quan đã ra lệnh trích xuất phải có văn bản thông báo cho cơ quan đề nghị trích xuất sau và cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án, cơ quan thi hành án hình sự đang quản lý phạm nhân được trích xuất biết để phối hợp giải quyết theo thẩm quyền quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú.