vanban.org

Điều 15. Cứu hộ động vật — Thông tư 85/2025/TT-BNNMT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/01/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Nông nghiệp và Môi trường Ban hành 31/12/2025 Hiệu lực 01/01/2026 Còn hiệu lực 7 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 đời thông tư · 3 phiên bản · 1 năm
Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT Quy định về quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm, loài động vật rừng thông thường và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp · 85/2025/TT-BNNMT
01/01/2026Bản gốcThay thế Hiện hành
Thông tư số 27/2025/TT-BNNMT Quy định về quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm; nuôi động vật rừng thông thường và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp · 27/2025/TT-BNNMT
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 85/2025/TT-BNNMT › Chương II › Mục 1 › Điều 15
Đọc toàn văn

Điều 15. Cứu hộ động vật

1. Động vật còn sống bị mất nơi sinh sống tự nhiên, bị lạc, bị thương, bị bệnh được cứu hộ tại cơ sở nuôi, cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoạt động theo quy định.

2. Trình tự, thủ tục cứu hộ động vật còn sống là tang vật, vật chứng hoặc do chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho nhà nước thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định về quản lý lâm sản; xử lý lâm sản, thủy sản là tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân.

3. Trình tự thực hiện cứu hộ động vật bị mất nơi sinh sống tự nhiên, bị lạc, bị thương, bị bệnh, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này:

a) Tổ chức, cá nhân khi phát hiện động vật bị lạc, bị thương, bị bệnh hoặc mất nơi sinh sống tự nhiên có trách nhiệm thông báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phát hiện để kịp thời tổ chức cứu hộ;

b) Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ khi nhận được thông tin, Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức kiểm tra, tiếp nhận và lập Biên bản giao nhận động vật theo Mẫu số 09 Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này; thông báo bằng văn bản công khai tại trụ sở cơ quan và trên phương tiện thông tin đại chúng về động vật để xác minh chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp. Thời hạn thông báo và xác minh là 05 ngày làm việc;

Trong thời gian thông báo, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm chuyển giao cho cơ sở bảo tồn đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoạt động để thực hiện cứu hộ, chăm sóc theo quy định của pháp luật; trường hợp không có cơ sở bảo tồn phù hợp thì chuyển giao cho cơ sở nuôi đã được cấp mã số cơ sở nuôi;

Hết thời hạn thông báo theo quy định, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp hoặc xác định động vật không phải là tang vật, vật chứng của vụ vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp với cơ quan chuyên môn của Sở Nông nghiệp và Môi trường và cơ sở nuôi, cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học quyết định xử lý động vật theo quy định tại khoản 4 Điều này.

4. Hình thức xử lý động vật sau cứu hộ:

a) Thả động vật đủ điều kiện về môi trường tự nhiên phù hợp với điều kiện sinh sống của loài, bảo đảm an toàn cho động vật, con người và môi trường;

b) Chuyển giao cho cơ sở nuôi, cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học được cấp phép để tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, nghiên cứu hoặc phục vụ giáo dục môi trường;

c) Chuyển giao cho tổ chức nghiên cứu, đào tạo, giáo dục môi trường sau khi được Sở Nông nghiệp và Môi trường chấp thuận bằng văn bản;

d) Đối với động vật thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ không đủ điều kiện thả về tự nhiên, ưu tiên chuyển giao vào cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học để thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng, phục hồi và bảo tồn. Trường hợp cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học không đủ điều kiện tiếp nhận, Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức chuyển giao cho cơ sở nuôi sinh sản, sinh trưởng hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp động vật bị chết trong quá trình cứu hộ, cơ sở đang quản lý động vật có trách nhiệm lập biên bản xác nhận, thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiếp nhận và đề xuất xử lý động vật.

6. Trường hợp động vật sinh sản trong quá trình cứu hộ, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày động vật sinh sản, cơ sở đang quản lý động vật có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn của Sở Nông nghiệp và Môi trường về số lượng cá thể được sinh ra; quyết định việc tiếp tục nuôi hoặc thả về môi trường tự nhiên; trình tự thực hiện thả loài động vật về môi trường tự nhiên thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Thông tư này.

7. Trường hợp động vật bị bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hoặc không còn khả năng phục hồi thì thực hiện tiêu hủy theo quy định của pháp luật về thú y, bảo vệ môi trường và các quy định khác có liên quan. Quá trình tiêu hủy có đại diện cơ quan chủ trì tiêu hủy động vật; cơ quan chuyên môn của Sở Nông nghiệp và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành tiêu hủy; cơ quan chủ trì tiêu hủy có thể mời người chứng kiến và các tổ chức, cá nhân có liên quan khác tham gia.