Điều 11. Các trường hợp thôi giữ chức danh, miễn nhiệm, cách chức Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự, Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú, Cơ quan thi hành án hình sự
1. Khi được điều động, phân công thực hiện công tác khác mà chức vụ không còn phù hợp với chức danh đang đảm nhiệm, nghỉ công tác chờ hưởng chế độ hưu trí, bị kỷ luật với hình thức tước danh hiệu Công an nhân dân, chuyển ngành, xuất ngũ, từ trần thì đương nhiên thôi giữ chức danh Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự, Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú, Cơ quan thi hành án hình sự.
2. Trường hợp miễn nhiệm chức danh Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự, Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú, Cơ quan thi hành án hình sự:
a) Vì lý do sức khỏe hoặc vì lý do khác không thể hoàn thành nhiệm vụ được giao;
b) Do mắc sai phạm mà hành vi sai phạm liên quan đến lĩnh vực thi hành án hình sự, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú do mình phụ trách chưa đến mức bị xử lý kỷ luật, không còn đảm bảo uy tín để tiếp tục đảm nhiệm chức danh.
3. Trường hợp cách chức chức danh Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sự, Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú, Cơ quan thi hành án hình sự
Do mắc sai phạm bị xử lý kỷ luật về Đảng, chính quyền bằng hình thức khiển trách trở lên mà hành vi sai phạm liên quan đến lĩnh vực thi hành án hình sự, tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú do mình phụ trách, xét thấy không đảm bảo uy tín để tiếp tục đảm nhiệm chức danh Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng nêu trên thì đơn vị quản lý báo cáo đề nghị cấp có thẩm quyền ra quyết định cách chức.
4. Các trường hợp miễn nhiệm, cách chức phải ra quyết định bằng văn bản, trừ trường hợp đương nhiên thôi giữ chức danh. Cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp có trách nhiệm thông báo bằng văn bản đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đối với các trường hợp nêu trên.