Điều 7. Bổ sung Điều 24a vào sau Điều 24
“Điều 24a. Phối hợp trong xử lý vi phạm hành chính đối với tên miền
1. Việc áp dụng biện pháp tạm giữ tên miền được thực hiện như sau:
a) Trong quá trình xem xét áp dụng biện pháp tạm giữ tên miền theo quy định tại Điều 3a Nghị định số 99/2013/NĐ-CP, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có thể đề nghị Trung tâm Internet Việt Nam, Nhà đăng ký tên miền, Tổ chức quản lý tên miền dùng chung cấp cao nhất mới (New gTLD Registry) tại Việt Nam phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu, ý kiến chuyên môn, giữ nguyên hiện trạng đăng ký, sử dụng tên miền theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
b) Văn bản đề nghị phối hợp theo quy định tại điểm a khoản này, tùy theo tính chất vụ việc và nội dung cần phối hợp, cần có các thông tin chủ yếu sau đây:
- Tên miền được yêu cầu xem xét áp dụng biện pháp tạm giữ;
- Thông tin về tổ chức, cá nhân đăng ký, sử dụng tên miền, nếu có;
- Nội dung vụ việc, hành vi đang được xem xét, căn cứ đề nghị phối hợp và thông tin, tài liệu có liên quan;
- Nội dung đề nghị phối hợp; trường hợp yêu cầu giữ nguyên hiện trạng đăng ký, sử dụng tên miền thì phải xác định rõ yêu cầu này trong văn bản.
c) Trường hợp đề nghị Trung tâm Internet Việt Nam, Nhà đăng ký tên miền hoặc Tổ chức quản lý tên miền dùng chung cấp cao nhất mới (New gTLD Registry) tại Việt Nam cung cấp thông tin hoặc cho ý kiến chuyên môn, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, cơ quan, tổ chức được đề nghị có trách nhiệm cung cấp thông tin hoặc có ý kiến bằng văn bản về nội dung thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao.
Trường hợp thông tin, tài liệu được cung cấp chưa đủ để trả lời nội dung đề nghị, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, cơ quan, tổ chức được đề nghị thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính và nêu rõ nội dung cần bổ sung, làm rõ. Trong trường hợp này, thời hạn cung cấp thông tin hoặc có ý kiến được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được đề nghị nhận được nội dung bổ sung, làm rõ.
d) Trường hợp văn bản đề nghị phối hợp có yêu cầu giữ nguyên hiện trạng đăng ký, sử dụng tên miền, Trung tâm Internet Việt Nam, Nhà đăng ký tên miền hoặc Tổ chức quản lý tên miền dùng chung cấp cao nhất mới (New gTLD Registry) tại Việt Nam có trách nhiệm, theo loại tên miền và phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, thực hiện yêu cầu và thông báo bằng văn bản về kết quả thực hiện cho người đã gửi văn bản đề nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị.
Việc giữ nguyên hiện trạng đăng ký, sử dụng tên miền và các thao tác kỹ thuật có liên quan được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài nguyên Internet.
đ) Trường hợp áp dụng biện pháp tạm giữ tên miền, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính gửi quyết định tạm giữ cho Trung tâm Internet Việt Nam, Nhà đăng ký tên miền hoặc Tổ chức quản lý tên miền dùng chung cấp cao nhất mới (New gTLD Registry) tại Việt Nam có liên quan, theo loại tên miền, để phối hợp thực hiện theo Nghị định số 99/2013/NĐ-CP và pháp luật về quản lý, sử dụng tài nguyên Internet.
e) Khi không còn căn cứ hoặc không còn cần thiết phải duy trì việc giữ nguyên hiện trạng đăng ký, sử dụng tên miền theo quy định tại điểm d khoản này, bao gồm trường hợp người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quyết định không áp dụng biện pháp tạm giữ tên miền, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính đã có yêu cầu giữ nguyên hiện trạng đăng ký, sử dụng tên miền phải gửi văn bản chấm dứt yêu cầu giữ nguyên hiện trạng đăng ký, sử dụng tên miền đến cơ quan, tổ chức đang thực hiện việc giữ nguyên hiện trạng đăng ký, sử dụng tên miền.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản nêu trên, cơ quan, tổ chức đang thực hiện việc giữ nguyên hiện trạng đăng ký, sử dụng tên miền có trách nhiệm chấm dứt việc giữ nguyên hiện trạng đăng ký, sử dụng tên miền.
Trường hợp áp dụng biện pháp tạm giữ tên miền thì việc giữ nguyên hiện trạng đăng ký, sử dụng tên miền được duy trì đến khi quyết định tạm giữ tên miền được ban hành; việc quản lý, xử lý tên miền tiếp theo được thực hiện theo quyết định tạm giữ và quy định của pháp luật có liên quan.
2. Việc phối hợp thi hành biện pháp khắc phục hậu quả buộc hoàn trả tên miền và quyết định cưỡng chế buộc thu hồi tên miền được thực hiện như sau:
a) Trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả có nội dung buộc hoàn trả tên miền đối với tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” và tên miền quốc tế do Nhà đăng ký tên miền quốc tế tại Việt Nam hoặc Tổ chức quản lý tên miền dùng chung cấp cao nhất mới (New gTLD Registry) tại Việt Nam quản lý, tổ chức, cá nhân vi phạm có trách nhiệm thực hiện việc hoàn trả tên miền theo quy định tại khoản 6 Điều 19 Thông tư này và pháp luật về quản lý, sử dụng tài nguyên Internet.
b) Sau khi hết thời hạn thực hiện biện pháp buộc hoàn trả tên miền quy định tại khoản 6 Điều 19 Thông tư này, người có thẩm quyền xử lý vi phạm kiểm tra việc thực hiện biện pháp buộc hoàn trả tên miền.
Trường hợp cần thiết để xác định tình trạng thực hiện việc hoàn trả tên miền, người có thẩm quyền xử lý vi phạm có thể đề nghị Trung tâm Internet Việt Nam, Nhà đăng ký tên miền hoặc Tổ chức quản lý tên miền dùng chung cấp cao nhất mới (New gTLD Registry) tại Việt Nam có liên quan cung cấp thông tin, xác nhận tình trạng tên miền.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, cơ quan, tổ chức được đề nghị có trách nhiệm cung cấp thông tin hoặc xác nhận tình trạng tên miền trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao.
c) Trường hợp qua kiểm tra theo quy định tại điểm b khoản này xác định tổ chức, cá nhân vi phạm không thực hiện việc hoàn trả tên miền theo quy định tại điểm a khoản này thì bị cưỡng chế buộc thu hồi tên miền theo quy định tại khoản 7 Điều 19 Thông tư này.
d) Khi có quyết định cưỡng chế buộc thu hồi tên miền, người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế gửi quyết định đến cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thu hồi tên miền theo khoản 7 Điều 19 Thông tư này để thi hành theo quy định của pháp luật.
đ) Trường hợp phát sinh vướng mắc ảnh hưởng đến việc thi hành quyết định cưỡng chế buộc thu hồi tên miền, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thu hồi tên miền kịp thời thông báo cho người đã ban hành quyết định cưỡng chế để phối hợp xử lý theo quy định của pháp luật.
3. Việc phối hợp thực hiện biện pháp ngăn chặn truy cập tên miền xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và khôi phục truy cập tên miền được thực hiện như sau:
a) Khi người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính ban hành quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn truy cập tên miền xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo quy định tại khoản 3a Điều 31 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP, người ban hành quyết định gửi quyết định cho doanh nghiệp viễn thông có trách nhiệm thực hiện việc ngăn chặn truy cập và Trung tâm Internet Việt Nam để biết, phối hợp theo chức năng, nhiệm vụ.
b) Khi người có thẩm quyền ban hành quyết định khôi phục truy cập tên miền, người ban hành quyết định gửi quyết định cho doanh nghiệp viễn thông đã thực hiện việc ngăn chặn truy cập để thực hiện việc khôi phục truy cập và Trung tâm Internet Việt Nam để biết, phối hợp theo chức năng, nhiệm vụ.
c) Trường hợp phát sinh vướng mắc ảnh hưởng đến việc thực hiện quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn truy cập hoặc quyết định khôi phục truy cập tên miền, doanh nghiệp viễn thông kịp thời thông báo cho người đã ban hành quyết định để phối hợp xử lý theo quy định của pháp luật.
d) Việc ngăn chặn truy cập, khôi phục truy cập tên miền và báo cáo kết quả thực hiện được thực hiện theo quy định tại khoản 3a Điều 31 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP và pháp luật có liên quan.”.