Điều 5. Xử lý đồ vật cấm
1. Đối với đồ vật cấm quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 2 Thông tư này, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật; đối với đồ vật cấm quy định tại các khoản 5, 6, 10, 11 và 12 Điều 2 Thông tư này, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định xử lý (trừ các đồ vật cấm được quy định tại khoản 1 Điều 4); đối với đồ vật cấm quy định tại khoản 9 Điều 2 Thông tư này hoặc đồ vật cấm đã chuyển giao và được các cơ quan chức năng trả lại cơ sở giam giữ phạm nhân thì thành lập Hội đồng xử lý đồ vật cấm.
2. Đối với đồ vật cấm quy định tại khoản 7 Điều 2 Thông tư này được xử lý như sau:
a) Trường hợp phạm nhân tự nguyện giao nộp thì được đưa vào nơi lưu giữ hoặc bàn giao cho người thân thích theo đề nghị của phạm nhân;
b) Trường hợp phát hiện, thu giữ sau khi đấu tranh, xử lý hành vi vi phạm, được niêm phong, lưu giữ tại nơi lưu giữ đồ vật cấm và trả lại cho phạm nhân ngay sau khi chấp hành xong án phạt tù, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù hoặc bàn giao cho đơn vị quản lý phạm nhân khi phạm nhân thực hiện quyết định chuyển nơi chấp hành án. Trường hợp phạm nhân chết trong quá trình chấp hành án phạt tù, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thực hiện bàn giao cho người thân thích của phạm nhân.
c) Đối với cá nhân vi phạm thì bàn giao đồ vật cấm và người vi phạm cho Công an cấp xã nơi phát hiện vi phạm để xử lý theo quy định của pháp luật.
d) Trường hợp đồ vật cấm qua xác minh không xác định được chủ sở hữu thì bàn giao cho Công an cấp xã nơi phát hiện để xử lý theo quy định của pháp luật.
3. Đồ vật cấm quy định tại khoản 8 Điều 2 Thông tư này sau khi thu giữ phải niêm phong, lưu giữ tại nơi lưu giữ đồ vật cấm và trả lại cho phạm nhân ngay sau khi chấp hành xong án phạt tù, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù hoặc bàn giao cho đơn vị quản lý phạm nhân khi phạm nhân thực hiện quyết định chuyển nơi chấp hành án. Trường hợp phạm nhân chết trong quá trình chấp hành án phạt tù, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thực hiện bàn giao cho người thân thích của phạm nhân.
4. Đồ vật cấm quy định tại khoản 9 Điều 2 Thông tư này sau khi thu giữ phải niêm phong, lưu giữ để làm rõ nội dung vụ việc. Sau khi xác minh, xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Thông tư này, nếu không có dấu hiệu tội phạm và vi phạm hành chính thì cơ sở giam giữ phạm nhân lập Hội đồng xử lý đồ vật cấm.
5. Hội đồng xử lý đồ vật cấm
a) Đối với trại giam: Giám thị làm Chủ tịch; Phó Giám thị phụ trách công tác trinh sát làm Phó Chủ tịch; Đội trưởng Đội Trinh sát làm Thư ký và các ủy viên khác do Giám thị quyết định. Trường hợp vì lý do khách quan Giám thị, Đội trưởng, Trưởng phân trại không tham gia Hội đồng thì ủy quyền bằng văn bản cho Phó Giám thị, Phó Đội Trưởng, Phó Trưởng phân trại tham gia.
b) Đối với trại tạm giam: Giám thị làm Chủ tịch; Phó Giám thị phụ trách công tác trinh sát làm Phó Chủ tịch; Đội trưởng Đội thực hiện công tác trinh sát làm Thư ký và các ủy viên khác do Giám thị quyết định. Trường hợp vì lý do khách quan Giám thị, Đội trưởng, Trưởng phân trại không tham gia Hội đồng thì ủy quyền bằng văn bản cho Phó Giám thị, Phó Đội Trưởng, Phó Trưởng phân trại tham gia.