vanban.org

Điều 19. Trình tự tổ chức lễ tang — Thông tư 62/2019/TT-BCA

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 21/01/2026 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 21/01/2026 Thay thế: 09/2026/TT-BCA · 21/01/2026
Bộ Công an Ban hành 25/11/2019 Hiệu lực 08/01/2020 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời thông tư · 5 phiên bản · 13 năm
Thông tư số 09/2026/TT-BCA Quy định về tổ chức lễ tang trong Công an nhân dân · 09/2026/TT-BCA
Thông tư số 62/2019/TT-BCA Quy định về tổ chức lễ tang trong Công an nhân dân · 62/2019/TT-BCA
21/01/202609/2026/TT-BCAThay thế Đang xem 08/01/2020Bản gốcThay thế
Thông tư số 15/2013/TT-BCA Quy định chế độ tang lễ trong Công an nhân dân · 15/2013/TT-BCA
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 62/2019/TT-BCA › Chương II › Mục 2 › Điều 19
Đọc toàn văn

Điều 19. Trình tự tổ chức lễ tang

1. Lễ viếng (sơ đồ tổ chức lễ viếng thực hiện theo Phụ lục số 1 kèm theo Thông tư này).

Trước khi tổ chức lễ viếng, đại diện Ban Tổ chức lễ tang công bố Quyết định về việc thành lập Ban Tổ chức lễ tang; thông báo thời gian tổ chức lễ viếng, lễ truy điệu, lễ đưa tang và lễ an táng.

a) Đến giờ viếng, khi các lực lượng phục vụ lễ tang và những người tham dự lễ tang đã vào vị trí theo quy định, Ban Tổ chức lễ tang thông báo “Lễ viếng đồng chí .... bắt đầu”. Sau đó, giới thiệu các đoàn vào viếng;

b) Sắp xếp đội hình các đoàn vào viếng

Hai chiến sĩ khiêng hoa, hướng vòng hoa về phía đoàn, “trình hoa”. Sau đó xoay vòng hoa lại, “đi nghiêm” chậm rãi trước đoàn vào vị trí viếng.

Trưởng đoàn.

Các thành viên trong đoàn đi thành một hoặc hai hàng dọc.

Sĩ quan dẫn viếng đi chếch phía sau, bên phải Trưởng đoàn;

c) Đến vị trí viếng

Hai chiến sĩ khiêng hoa đứng lại, phối hợp xoay và đặt vòng hoa vào giá hoa viếng, hướng mặt vòng hoa về phía đoàn viếng, sửa lại ngay ngắn rồi quay đằng sau đi đều về đứng ở hai bên.

Sĩ quan dẫn viếng dẫn đoàn viếng đứng thành hàng ngang. Tùy số lượng đoàn viếng nhiều hay ít mà bố trí đứng thành một hoặc nhiều hàng ngang. Trưởng đoàn đứng chính giữa hàng, sĩ quan dẫn viếng đứng về bên phải đoàn viếng;

d) Mặc niệm

Khi đoàn viếng đã ổn định đội hình, đồng chí Trưởng đoàn lên dâng hương. Người điều khiển âm thanh mở nhạc “Hồn tử sĩ”, nếu có Đội nhạc lễ Công an nhân dân thì cử bài “Hồn tử sĩ”. Khi nghe bài “Hồn tử sĩ”, mọi người trong đoàn viếng mặc niệm. Nếu mặc trang phục Công an nhân dân thì hàng ngang trên cùng thực hiện động tác chào, mắt hướng về nơi đặt linh cữu - chào vĩnh biệt người đã mất. Khi nhạc dừng lại, thôi chào, thôi mặc niệm. Nếu không có nhạc thì đồng chí trưởng đoàn hoặc sĩ quan dẫn viếng hô: “Một phút mặc niệm bắt đầu”, cán bộ, chiến sĩ thực hiện động tác chào vĩnh biệt người đã mất, hết thời gian mặc niệm hô “thôi”. Nếu mặc thường phục thì đứng nghiêm, đầu hơi cúi, vĩnh biệt người đã mất;

đ) Đi quanh linh cữu

Sĩ quan dẫn viếng hướng dẫn đoàn viếng đi thành một hàng dọc theo thứ tự: Trưởng đoàn, sau đó đến các thành viên trong đoàn. Sĩ quan dẫn viếng đi bên phải Trưởng đoàn, đi vòng từ bên phải linh cữu (phía trong cán bộ túc trực) lên đầu linh cữu rồi vòng đến vị trí nơi gia đình, thân nhân người đã mất, chia buồn với gia đình, sau đó đi ra khỏi khu vực viếng. Trưởng đoàn vào ghi sổ tang.

Hai chiến sĩ khiêng hoa từ hai bên đi vào đưa vòng hoa về nơi quy định.

2. Lễ truy điệu (sơ đồ tổ chức lễ truy điệu thực hiện theo Phụ lục số 2 kèm theo Thông tư này).

Đến giờ làm lễ truy điệu, Đại diện Ban Tổ chức lễ tang mời các đồng chí lãnh đạo, thành viên Ban Tổ chức lễ tang, các đoàn dự lễ tang, đơn vị nghi lễ... vào vị trí tổ chức lễ truy điệu.

a) Đại diện Ban Tổ chức lễ tang tuyên bố: “Lễ truy điệu đồng chí (cấp bậc, họ tên) bắt đầu”. Sau đó, mời đồng chí Trưởng ban Tổ chức lễ tang đọc điếu văn; đọc điếu văn xong, đồng chí Trưởng ban Tổ chức lễ tang hoặc sĩ quan chỉ huy đơn vị danh dự làm nhiệm vụ tuyên bố: “Phút mặc niệm bắt đầu” đồng thời thực hiện động tác quay hướng về phía linh cữu.

Người điều khiển âm thanh mở nhạc “Hồn tử sĩ”, nếu có Đội nhạc lễ Công an nhân dân thì cử nhạc “Hồn tử sĩ”.

Đội danh dự thực hiện động tác bồng súng chào. Tất cả mọi người dự lễ truy điệu đứng nghiêm, mặc niệm; cán bộ, chiến sĩ mặc trang phục Công an nhân dân đứng nghiêm thực hiện động tác chào. Kết thúc nhạc “Hồn tử sĩ”, các đại biểu thôi mặc niệm, Đội danh dự thôi chào.

Đại diện Ban Tổ chức lễ tang hoặc đại diện gia đình cảm ơn (nếu có);

b) Ban Tổ chức lễ tang tuyên bố: “Lễ truy điệu đồng chí (cấp bậc, họ tên) kết thúc” và mời các đồng chí lãnh đạo, đại biểu, các đoàn, gia đình đi vòng quanh linh cữu tiễn biệt lần cuối. Sau đó, Đội nhạc lễ (nếu có), Đội danh dự, tiêu binh ra khỏi vị trí. Các đội công tác thực hiện nhiệm vụ theo quy định.

3. Lễ đưa tang

a) Chuyển linh cữu lên xe tang

Đội nghi lễ và đoàn xe tang triển khai đội hình theo quy định.

Chiến sĩ danh dự gấp Công an kỳ phủ trên linh cữu.

Hai chiến sĩ mang ảnh, giá huân chương đến vị trí trước linh cữu để đi trước linh cữu.

Đội khiêng linh cữu vào khiêng linh cữu ra xe, các đại biểu, Ban Tổ chức lễ tang có thể cùng tham gia khiêng linh cữu.

Khi linh cữu được khiêng ra, thứ tự đi sau linh cữu là gia đình, các đồng chí lãnh đạo, tiếp đến là đại biểu và các đoàn...

Đến xe tang, đặt linh cữu lên xe tang hoặc giá kéo. Chiến sĩ mang ảnh, giá Huân chương để lên xe chở Công an kỳ. Đối với lễ tang của sĩ quan cấp úy, hạ sĩ quan, chiến sĩ không có xe Công an kỳ thì mang ảnh, giá huân chương (nếu có), lên xe linh cữu. Bộ phận khiêng hoa, hương... đưa hoa, hương lên xe theo quy định.

Lãnh đạo, gia đình, đại biểu, thân quyến lên các xe đưa tang;

b) Khi linh cữu đã được đặt lên xe chở linh cữu (hoặc xe kéo), các lực lượng đã chuẩn bị xong, Ban Tổ chức lễ tang ra lệnh cho đoàn xe tang xuất phát, thứ tự các xe theo Phụ lục số 3 kèm theo Thông tư này.

Tốc độ, hành trình, cự ly của các xe đưa tang do Ban Tổ chức lễ tang quy định. Nhưng phải đảm bảo tuyến đường đi từ nơi tổ chức lễ viếng đến nơi an táng hoặc hỏa táng là phù hợp nhất. Không thực hiện rước di ảnh của người hy sinh, từ trần qua gia đình. Nếu an táng, hỏa táng ở địa phương khác nơi tổ chức lễ tang thì chỉ có xe linh cữu, xe hoa đi cùng gia đình về nơi an táng, hỏa táng, đơn vị tổ chức lễ tang phối hợp với chính quyền địa phương, gia đình tổ chức lễ an táng, hỏa táng. Trường hợp đặc biệt do đồng chí Trưởng Ban Tổ chức lễ tang quyết định.

4. Lễ an táng hoặc hỏa táng

a) An táng

Đoàn xe tới nơi an táng, đỗ xe vào các vị trí quy định, lực lượng nghi lễ vào các vị trí làm nhiệm vụ.

Đội khiêng linh cữu chuyển linh cữu đặt lên giá trước huyệt.

Gia đình, các đồng chí lãnh đạo và các đoàn tham dự lễ an táng đứng sau linh cữu theo hướng dẫn của Ban Tổ chức lễ tang.

Đội danh dự đứng thành hai đến bốn hàng ngang song song với linh cữu, đội nhạc lễ (nếu có) đứng hướng đối diện với đội danh dự.

Khi các lực lượng đã vào vị trí ổn định, Ban Tổ chức lễ tang tuyên bố: “Lễ an táng đồng chí (cấp bậc, họ tên) bắt đầu”.

Đội khiêng linh cữu khiêng linh cữu đặt trên huyệt.

Ban Tổ chức lễ tang tuyên bố “Hạ huyệt”.

Đội công tác hạ huyệt.

Khi linh cữu đã đặt vào vị trí, Ban Tổ chức lễ tang mời các đồng chí lãnh đạo, gia đình thân quyến bỏ nắm đất đầu tiên. Sau đó gia đình về đứng bên phải hoặc bên trái huyệt, các đồng chí lãnh đạo, các đại biểu về vị trí thích hợp.

Ban Tổ chức lễ tang tuyên bố “Lấp huyệt”.

Đội công tác làm nhiệm vụ lấp huyệt.

Lấp huyệt xong, đặt hoa lên mộ.

Sau khi đặt vòng hoa lên mộ xong, Ban Tổ chức lễ tang tuyên bố “Vĩnh biệt đồng chí (cấp bậc, họ tên) Phút mặc niệm bắt đầu”. Đội danh dự bồng súng chào, mọi người dự Lễ an táng mặc niệm, cán bộ, chiến sĩ mặc trang phục Công an nhân dân đứng nghiêm thực hiện động tác chào.

Mặc niệm xong, Đội danh dự “thôi chào”, mọi người thôi mặc niệm.

Kết thúc lễ an táng, Ban Tổ chức lễ tang tuyên bố “Lễ an táng đồng chí (cấp bậc, họ tên) kết thúc”; cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các cơ quan, đoàn thể... rồi mời mọi người dự lễ an táng đi một vòng quanh mộ, vĩnh biệt lần cuối người đã mất. Các đại biểu chia buồn với gia đình rồi ra về. Các lực lượng phục vụ lễ tang theo hướng dẫn của Ban Tổ chức lễ tang lần lượt ra khỏi khu vực Lễ an táng;

b) Hỏa táng: Ban Tổ chức lễ tang phối hợp với Đài hỏa táng và gia đình tổ chức hỏa táng theo quy định.

5. Các nội dung khác thực hiện theo quy định tại Điều 84 Thông tư số 36/2019/TT-BCA ngày 18/9/2019 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về nghi lễ Công an nhân dân.