Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Số lượng tuyển sinh là số người học dự kiến tuyển sinh cho từng năm được xác định và công bố theo ngành, nhóm ngành, trình độ, hình thức và phương thức tổ chức đào tạo tại trụ sở chính và từng phân hiệu của cơ sở đào tạo (không bao gồm người học đi học theo diện Hiệp định và cử tuyển). Số lượng tuyển sinh tối đa là số người học cao nhất mà cơ sở đào tạo được tuyển sinh tại trụ sở chính và từng phân hiệu của cơ sở đào tạo bảo đảm quy mô đào tạo không vượt quá năng lực đào tạo.
2. Số thực tuyển trong một năm là số người học trúng tuyển, hoàn thành thủ tục nhập học và đăng ký học tập tại trụ sở chính, hoặc tại từng phân hiệu (nếu có) của cơ sở đào tạo trong năm tuyển sinh, được xác định theo ngành, nhóm ngành, trình độ, hình thức và phương thức tổ chức đào tạo tại thời điểm ngày 31 tháng 12 của năm tuyển sinh.
3. Quy mô đào tạo là tổng số người học có đăng ký học tập tại trụ sở chính hoặc từng phân hiệu (nếu có) của cơ sở đào tạo ở một thời điểm, được xác định theo ngành, nhóm ngành, trình độ, hình thức, phương thức tổ chức đào tạo. Quy mô đào tạo cuối năm là quy mô đào tạo xác định tại thời điểm ngày 31 tháng 12 hằng năm.
4. Người học là người đang học tập và nghiên cứu khoa học tại cơ sở đào tạo theo các chương trình đào tạo cấp văn bằng, bao gồm:
a) Sinh viên của các chương trình đào tạo trình độ đại học, chương trình đào tạo chuyên sâu của một số ngành, lĩnh vực đặc thù cấp văn bằng theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, chương trình đào tạo trình độ cao đẳng ngành Giáo dục Mầm non;
b) Học viên của các chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ, chương trình đào tạo cấp văn bằng trình độ tương đương trình độ thạc sĩ (sau đây gọi chung là học viên cao học);
c) Nghiên cứu sinh của các chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ hoặc chương trình đào tạo cấp văn bằng trình độ tương đương trình độ tiến sĩ.
5. Số người học quy đổi là số người học được quy đổi bằng cách nhân với một hệ số quy định theo trình độ, nhóm ngành và ngành đào tạo. Số người học chính quy quy đổi là số người học chính quy được quy đổi bằng cách nhân với một hệ số quy định theo trình độ và lĩnh vực đào tạo.
6. Tỉ lệ thôi học năm đầu là tỉ lệ giữa số người học thôi học (bao gồm cả số bị buộc thôi học) sau năm đầu tiên so với số người học thực tuyển của một ngành, nhóm ngành, trình độ, hình thức và phương thức tổ chức đào tạo tương ứng; được thống kê cho khóa tuyển sinh đã hoàn thành năm học đầu tiên tính đến thời điểm báo cáo theo quy định tại Thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học.
7. Tỉ lệ người tốt nghiệp có việc làm là tỉ lệ giữa số người học của một ngành, nhóm ngành, trình độ, hình thức và phương thức tổ chức đào tạo đã tốt nghiệp có việc làm phù hợp với trình độ chuyên môn được đào tạo sau thời hạn 12 tháng kể từ ngày có quyết định công nhận tốt nghiệp, so với người học đã được công nhận tốt nghiệp của cùng ngành, nhóm ngành, trình độ, hình thức và phương thức tổ chức đào tạo tương ứng; được thống kê theo hướng dẫn tại Thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học. Đối với các ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe có cấp Giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, tỉ lệ người tốt nghiệp có việc làm bao gồm cả người đang trong thời gian thực hành khám bệnh, chữa bệnh để được cấp Giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh.
8. Diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo là tổng diện tích sàn xây dựng thuộc quyền sở hữu của cơ sở đào tạo hoặc thuộc quyền sở hữu của cơ quan chủ quản nhưng được cơ quan chủ quản quyết định giao quyền sử dụng hợp pháp cho cơ sở đào tạo để phục vụ trực tiếp các hoạt động đào tạo được kê khai trên cơ sở dữ liệu chuyên ngành về giáo dục đại học. Trường hợp diện tích sàn xây dựng không thuộc quyền sở hữu của cơ sở đào tạo hoặc thuộc quyền sở hữu của cơ quan chủ quản nhưng đang trực tiếp phục vụ đào tạo từ trước ngày Thông tư này có hiệu lực (có hợp đồng thuê, mượn, hoặc giấy tờ pháp lý tương đương và còn hiệu lực) thì được tiếp tục tính vào diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo đến khi hết thời hạn hợp đồng, kể cả trường hợp gia hạn hợp đồng, nhưng tối đa không quá 05 năm kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực. Diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo bao gồm diện tích sử dụng của:
a) Hội trường, giảng đường, phòng học các loại, phòng đa năng; phòng kỹ thuật, phòng thu; phòng thí nghiệm, thực nghiệm, thực hành, thực tập, luyện tập; thư viện, trung tâm học liệu; công trình huấn luyện, giảng dạy thể thao đáp ứng Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia (QCVN) và Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN) về thiết kế công trình ngành thể thao;
b) Phòng làm việc của cán bộ quản lý, giảng viên, nhân viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và các diện tích khác có công năng phục vụ giảng dạy, học tập, rèn luyện, nghiên cứu (không bao gồm diện tích công trình dịch vụ sinh hoạt hoặc dịch vụ kinh doanh, cho thuê).
9. Năng lực đào tạo (của một ngành hoặc nhóm ngành đào tạo, tại trụ sở chính, phân hiệu hoặc cả cơ sở đào tạo) là khả năng tiếp nhận tối đa tính theo số người học quy đổi căn cứ các tiêu chí về diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo và đội ngũ giảng viên quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư này được xác định tại thời điểm ngày 31 tháng 12 hằng năm.
10. Mã trường trong tuyển sinh là một mã quy ước gồm 03 ký tự chữ hoặc số thống nhất toàn quốc dùng để định danh tuyển sinh một cơ sở đào tạo; phân hiệu hoặc đơn vị đào tạo thuộc, trực thuộc cơ sở đào tạo có bộ máy quản lý được lập mã tuyển sinh riêng.
11. Địa điểm xác định số lượng tuyển sinh bao gồm trụ sở chính và những phân hiệu có bộ máy quản lý theo quy định hiện hành.
12. Hình thức, phương thức tổ chức đào tạo gồm:
a) Đào tạo chính quy thực hiện tập trung toàn thời gian được quy định tại Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15;
b) Đào tạo thường xuyên thực hiện theo thời gian linh hoạt được quy định tại Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 gồm hai phương thức: - Kết hợp giữa trực tiếp và từ xa là phương thức tổ chức đào tạo trong đó đào tạo trực tiếp chiếm tối thiểu trên 50,0% tổng khối lượng học tập của chương trình đào tạo; - Đào tạo từ xa là phương thức tổ chức đào tạo có 50,0% tổng khối lượng học tập của chương trình đào tạo trở lên được thực hiện chủ yếu thông qua các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông theo một hoặc kết hợp giữa phương thức tổ chức đào tạo từ xa mạng máy tính, viễn thông, thư tín, phát thanh - truyền hình; đáp ứng các yêu cầu bảo đảm chất lượng đào tạo từ xa.