Điều 6. Kế hoạch thu thập thông tin năng lượng
1. Căn cứ lập kế hoạch thu thập thông tin năng lượng.
a) Theo yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về năng lượng và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh;
b) Theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao;
c) Theo các chương trình, đề án, dự án, đề tài, nhiệm vụ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2. Thông tin năng lượng được thu thập định kỳ và đột xuất, bao gồm:
a) Báo cáo Quý (3 tháng): Thực hiện định kỳ hàng Quý. Thời gian chốt số liệu Quý tính từ ngày đầu tiên mỗi Quý đến hết ngày cuối cùng mỗi Quý; thời gian báo cáo trước ngày 15 tháng đầu tiên của Quý tiếp theo; Hình thức báo cáo trên phương tiện thông tin điện tử theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 7 Thông tư này.
b) Báo cáo năm: Thực hiện định kỳ hàng năm, thời gian chốt số liệu tính từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12; Hình thức báo cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Thông tư này.
c) Báo cáo đột xuất: Thực hiện trong trường hợp có yêu cầu đột xuất để phục vụ quản lý nhà nước