Điều 15. Tổ chức thẩm định giá
1. Đại hội nhà đầu tư lựa chọn tối thiểu một (01) tổ chức thẩm định giá. Trường hợp cần thiết, có thể lựa chọn hai (02), trong đó một tổ chức thực hiện việc định giá và một tổ chức thẩm định kết quả định giá.
Quy định này không áp dụng trong trường hợp là tổ chức thẩm định giá đáp ứng quy định tại khoản 2 Điều này và đã được công ty quản lý quỹ lựa chọn khi thành lập quỹ. Việc thay thế hoặc kéo dài hợp đồng với tổ chức thẩm định giá này sẽ do đại hội nhà đầu tư gần nhất quyết định.
2. Tổ chức thẩm định giá phải đáp ứng các tiêu chí sau:
a) Là doanh nghiệp thẩm định giá theo quy định pháp luật về thẩm định giá, hoặc tổ chức kinh doanh bất động sản có chức năng định giá bất động sản theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản;
b) Không phải là người có liên quan của công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát; không phải là đối tác trong các giao dịch tài sản với quỹ; không phải là người có liên quan tới đối tác trong giao dịch hạng mục bất động sản mà tổ chức đó dự kiến định giá;
c) Có tối thiểu ba (03) nhân viên có thẻ thẩm định viên về giá hoặc chứng chỉ định giá bất động sản. Các nhân viên này có tối thiểu năm (05) năm kinh nghiệm trong hoạt động định giá giá trị bất động sản;
d) Có uy tín, kinh nghiệm, đạo đức nghề nghiệp và đáp ứng các điều kiện khác theo quy định tại điều lệ quỹ và các tiêu chí khác của công ty quản lý quỹ;
đ) Tổ chức thẩm định giá và các cá nhân, tổ chức có quyền kiểm soát tổ chức thẩm định giá không phải là nhà đầu tư lớn của quỹ đầu tư bất động sản.
3. Công ty quản lý quỹ phải ký hợp đồng thẩm định giá với các tổ chức đã được đại hội nhà đầu tư lựa chọn. Hợp đồng phải có các nội dung tối thiểu sau:
a) Quy định về cơ chế chia sẻ thông tin, bảo đảm tổ chức thẩm định giá có đủ thông tin cần thiết cho việc định giá;
b) Quy định về phí thẩm định giá, theo nguyên tắc mức phí không phụ thuộc vào giá trị tài sản cần thẩm định;
c) Quy định về việc chấm dứt, thanh lý hợp đồng, kéo dài hợp đồng. Trường hợp hợp đồng chấm dứt theo đề nghị của một bên, thì phải được thông báo trước tối thiểu ba (03) tháng cho bên kia của hợp đồng;
d) Quy định về việc ủy quyền, theo nguyên tắc tổ chức thẩm định giá được ủy quyền cho một tổ chức thẩm định giá khác đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều này xác định giá trị bất động sản. Việc ủy quyền này phải được ban đại diện quỹ chấp thuận trước khi thực hiện.
4. Tổ chức thẩm định giá và chuyên viên thẩm định giá phải tuân thủ:
a) Không được định giá đối với bất động sản mà chuyên viên đó là đối tác giao dịch tài sản đó, hoặc là người có liên quan tới đối tác giao dịch tài sản đó; từ chối thực hiện dịch vụ định giá cho công ty quản lý quỹ mà chuyên viên thẩm định giá sở hữu từ 5% vốn điều lệ trở lên tại công ty quản lý quỹ hoặc có quan hệ họ hàng, thân thuộc như có bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột là thành viên trong ban điều hành, hoặc kế toán trưởng của công ty quản lý quỹ, thành viên hội đồng quản trị, hội đồng thành viên, chủ tịch công ty quản lý quỹ. Tổ chức thẩm định giá, chuyên viên thẩm định giá không được giao dịch tài sản với quỹ làm ảnh hưởng tới nguyên tắc độc lập của hoạt động định giá;
b) Tổ chức thẩm định giá, chuyên viên thẩm định giá không được thông đồng với công ty quản lý quỹ hoặc đối tác giao dịch tài sản của quỹ hoặc dùng lợi ích vật chất, gây sức ép, mua chuộc đối với công ty quản lý quỹ, đối tác giao dịch tài sản của quỹ nhằm làm sai lệch kết quả định giá; gợi ý hoặc nhận các lợi ích dưới bất kỳ hình thức nào ngoài giá dịch vụ định giá quy định tại hợp đồng;
c) Lưu trữ hồ sơ, tài liệu về định giá; cung cấp hồ sơ, tài liệu định giá theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;
d) Tuân thủ đầy đủ các quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của pháp luật về thẩm định giá.
5. Việc định giá bất động sản trong danh mục của quỹ phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
a) Tài sản phải được định giá trước khi thực hiện giao dịch, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện trong thời hạn sáu (06) tháng, tính từ thời điểm định giá gần nhất của tài sản đó hoặc theo yêu cầu của ban đại diện quỹ, đại hội nhà đầu tư;
b) Danh mục bất động sản của quỹ được định giá định kỳ hàng năm hoặc tại bất kỳ thời điểm nào theo yêu cầu của ban đại diện quỹ, đại hội nhà đầu tư;
c) Tối thiểu hai năm một lần, công ty quản lý quỹ phải trình đại hội nhà đầu tư thay đổi tổ chức thẩm định giá;
d) Cơ sở định giá là giá trị thị trường và giá trị hợp lý xác định theo nguyên tắc phù hợp với quy định pháp luật về kinh doanh bất động sản. Phương pháp định giá phù hợp với thông lệ ngành kinh doanh bất động sản và sổ tay định giá đã được phê duyệt bởi đại hội nhà đầu tư và ban đại diện quỹ theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư này;
đ) Tổ chức thẩm định giá chỉ xác định mức giá duy nhất tại một địa điểm và thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn thẩm định giá, phù hợp mục đích sử dụng nhất định được nêu trong chứng thư thẩm định giá;
e) Việc định giá bất động sản phải được thực hiện bởi tối thiểu hai phương pháp. Việc lựa chọn phương pháp định giá và kết quả định giá phải được giải thích chi tiết;
g) Thông tin, dữ liệu sử dụng trong hoạt động định giá phải được cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời và được điều chỉnh một cách khoa học và hợp lý. Việc điều chỉnh dữ liệu, thông tin phải được giải thích chi tiết, cụ thể.
6. Chuyên viên thẩm định giá của tổ chức thẩm định giá được giao trực tiếp thực hiện định giá bất động sản, khi kết thúc công việc phải lập báo cáo kết quả định giá và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả định giá và ý kiến nhận xét của mình trong báo cáo kết quả định giá.
7. Báo cáo kết quả định giá phải được lập một cách độc lập, khách quan, trung thực, có chữ ký của chuyên viên thẩm định giá trực tiếp thực hiện việc định giá và Tổng giám đốc hoặc giám đốc của tổ chức thẩm định giá hoặc của người được uỷ quyền bằng văn bản của Tổng giám đốc hoặc Giám đốc của tổ chức thẩm định giá. Báo cáo định giá phải có nội dung rõ ràng, không gây hiểu nhầm, thông tin trong báo cáo phải đầy đủ và chính xác. Báo cáo kết quả định giá phải phù hợp với các tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam và bao gồm tối thiểu các nội dung tối thiểu theo mẫu tại phụ lục số 17 ban hành kèm theo Thông tư này.
8. Tổ chức thẩm định giá phải thông báo kết quả định giá bằng văn bản dưới hình thức chứng thư thẩm định giá cho công ty quản lý quỹ.
9. Chứng thư thẩm định giá phải rõ ràng, chính xác và đầy đủ, không gây hiểu lầm để nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết định đầu tư. Chứng thư thẩm định giá chỉ có giá trị đối với tài sản định giá tại thời điểm định giá; có giá trị ràng buộc trách nhiệm đối với tổ chức thẩm định giá về kết quả định giá và kết luận trong chứng thư thẩm định giá. Chứng thư thẩm định giá phải bao gồm các nội dung tối thiểu theo mẫu tại phụ lục số 18 ban hành kèm theo Thông tư này.
10. Sau thời điểm định giá, trường hợp phát sinh những thay đổi lớn tác động đến giá trị của tài sản định giá, thì tổ chức thẩm định giá, chuyên viên thẩm định giá có trách nhiệm cập nhật những thay đổi đó vào báo cáo kết quả định giá, chứng thư thẩm định giá. Trong trường hợp cần thiết, công ty quản lý quỹ phải phát hành bản cáo bạch bổ sung hoặc thay thế chứng thư thẩm định giá trong bản cáo bạch.