vanban.org

Điều 24. Bồi thường hành lý ký gửi, bao gửi bị mất mát hư hỏng — Thông tư 20/2011/TT-BGTVT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/02/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 15/02/2015 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 80/2014/TT-BGTVT · 30/12/2014 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 08/2012/TT-BGTVT · 23/03/2012
Bộ Giao thông vận tải Ban hành 31/03/2011 Hiệu lực 15/05/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 15 năm
Thông tư số 20/2011/TT-BGTVT Quy định về vận tải hành khách đường thủy nội địa · 20/2011/TT-BGTVT
15/02/201580/2014/TT-BGTVTBãi bỏ Đang xem 15/05/2011Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 20/2011/TT-BGTVT › Chương VI › Điều 24
Đọc toàn văn

Điều 24. Bồi thường hành lý ký gửi, bao gửi bị mất mát hư hỏng

1. Trường hợp hành lý ký gửi, bao gửi hư hỏng, thiếu hụt hoặc mất mát do lỗi của người kinh doanh vận tải thì phải bồi thường theo các quy định sau đây:

a) Theo giá trị đã kê khai đối với hành lý ký gửi, bao gửi có kê khai giá trị; trường hợp người kinh doanh vận tải chứng minh được giá trị thiệt hại thực tế thấp hơn giá trị kê khai thì theo giá trị thiệt hại thực tế;

b) Theo mức do hai bên thoả thuận;

c) Theo giá trị trên hoá đơn mua hàng;

d) Theo giá thị trường của hàng hoá đó tại thời điểm trả tiền và địa điểm trả hàng; trong trường hợp không có giá thị trường của hàng hoá đó thì theo giá trung bình của hàng hoá cùng loại, cùng chất lượng trong khu vực nơi trả hàng;

đ) Trường hợp không giải quyết được theo quy định tại các điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 1 Điều này thì theo quy định sau đây: đối với hành lý ký gửi: mức bồi thường không vượt quá 20.000 (hai mươi nghìn) đồng, tiền Việt Nam cho 01 kg hành lý ký gửi tổn thất; đối với bao gửi: mức bồi thường không vượt quá 20.000 (hai mươi nghìn) đồng, tiền Việt Nam cho 01 kg bao gửi tổn thất; 7.000.000 (bảy triệu) đồng, tiền Việt Nam đối với mỗi bao hoặc kiện tổn thất.

2. Hành lý ký gửi, bao gửi bị hư hỏng, thiếu hụt, mất mát một phần thì bồi thường phần hư hỏng, thiếu hụt hoặc mất mát; trường hợp phần hư hỏng, thiếu hụt, mất mát dẫn đến hư hỏng hoặc không sử dụng được toàn bộ thì phải bồi thường toàn bộ; người vận tải được quyền sở hữu số hàng hoá tổn thất đã bồi thường.

3. Ngoài việc bồi thường thiệt hại theo các quy định tại khoản 1 Điều này, người kinh doanh vận tải còn phải hoàn lại cho hành khách hoặc người gửi hàng toàn bộ tiền cước hoặc phụ phí của số hành lý ký gửi, bao gửi bị tổn thất.