vanban.org

Điều 14. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức — Thông tư 19/2016/TT-BGTVT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 22/12/2021 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 22/12/2021 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 36/2021/TT-BGTVT · 22/12/2021 Sửa đổi, bổ sung: 35/2020/TT-BGTVT · 23/12/2020
Bộ Giao thông vận tải Ban hành 30/06/2016 Hiệu lực 15/09/2016 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 phiên bản · 10 năm
Thông tư số 19/2016/TT-BGTVT Quy định về khảo sát luồng phục vụ quản lý và thông báo luồng đường thủy nội địa · 19/2016/TT-BGTVT
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 19/2016/TT-BGTVT › Chương III › Điều 14
Đọc toàn văn

Điều 14. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức

1. Cơ quan có thẩm quyền công bố thông báo luồng đường thủy nội địa quy định tại Điều 12 của Thông tư này và tổ chức, cá nhân có đường thủy nội địa chuyên dùng có trách nhiệm:      

a) Tổ chức thực hiện công tác khảo sát, lập bình đồ, số hóa bản đồ (nếu có) để thực hiện công tác quản lý luồng và công bố thông báo luồng theo quy định hiện hành;

b) Tổ chức quản lý, giám sát quá trình thực hiện hợp đồng khảo sát đảm bảo tiến độ, chất lượng.

2. Cơ quan có thẩm quyền công bố thông báo luồng đường thủy nội địa quy định tại Điều 12 của Thông tư này có trách nhiệm:

a) Căn cứ cấp kỹ thuật đường thủy nội địa, kết quả khảo sát định kỳ luồng đường thủy nội địa và báo cáo của đơn vị quản lý bảo trì đường thủy nội địa thu thập, kiểm tra đầy đủ các số liệu về thủy văn, hiện trạng luồng và những vấn đề liên quan trực tiếp đến đảm bảo an toàn giao thông đường thủy nội địa trước khi công bố thông báo luồng đường thủy nội địa;

b) Kịp thời hiệu chỉnh và công bố lại thông báo luồng đường thủy nội địa khi phát hiện có sai sót hoặc thay đổi về nội dung trong thông báo.

3. Cơ quan, tổ chức thực hiện công tác khảo sát luồng đường thủy nội địa phải cung cấp thông tin, số liệu đầy đủ theo quy định tại Điều 5 của Thông tư này và chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự chính xác của số liệu, thông tin do mình cung cấp.

4. Các đơn vị quản lý bảo trì đường thủy nội địa báo cáo kịp thời tình huống đột xuất xảy ra trên luồng, tuyến; báo cáo định kỳ hiện trạng luồng đường thủy nội địa đến Cục Đường thủy nội địa Việt Nam Nam và Chi cục đường thủy nội địa khu vực hoặc Sở giao thông vận tải địa phương (đối với các tuyến đường thủy nội địa quốc gia ủy quyền cho địa phương quản lý) và các phương tiện thông tin khác, chi tiết báo cáo như sau:

a) Tên báo cáo: Báo cáo luồng;

b) Nội dung báo cáo: Các nội dung liên quan đến hiện trạng luồng đường thủy nội địa;

c) Phương thức gửi, nhận báo cáo: Báo cáo được thể hiện dưới hình thức văn bản giấy hoặc văn bản điện tử. Báo cáo được gửi đến cơ quan nhận báo cáo bằng một trong các phương thức sau: gửi trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính, fax, qua hệ thống thư điện tử, hoặc các phương thức khác theo quy định của pháp luật;

d) Tần xuất báo cáo: Định kỳ hàng tuần;

đ) Thời hạn gửi báo cáo: Trước ngày thứ Bảy của tuần thuộc kỳ báo cáo;

e) Thời gian chốt số liệu báo cáo: Tính từ ngày thứ Sáu của tuần trước kỳ báo cáo đến ngày thứ Năm của tuần thuộc kỳ báo cáo;

g) Mẫu báo cáo: Theo quy định tại Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư này.