Điều 12. Chế độ báo cáo.
1. Đối với các chủ đầu tư:
Báo cáo kịp thời, đầy đủ theo quy định cho cơ quan quyết định đầu tư và các cơ quan Nhà nước có liên quan; cung cấp đủ hồ sơ, tài liệu, tình hình theo quy định cho Kho bạc Nhà nước và cơ quan Tài chính để phục vụ công tác quản lý và thanh toán vốn đầu tư.
2. Đối với Sở Tài chính:
Thực hiện chế độ báo cáo về vốn đầu tư của các dự án giai đoạn 2 theo quy định của Bộ Tài chính tại Quyết định số 1869/QĐ-BTC ngày 06/6/2005 về việc ban hành Quy chế thông tin báo cáo về vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nội bộ ngành tài chính và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có).
3. Đối với Kho bạc Nhà nước:
- Thực hiện chế độ báo cáo về vốn đầu tư của các dự án giai đoạn 2 theo quy định của Bộ Tài chính tại Quyết định số 1869/QĐ-BTC ngày 06/6/2005 về việc ban hành Quy chế thông tin báo cáo về vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nội bộ ngành tài chính và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có).
- Hết năm kế hoạch, xác nhận số thanh toán trong năm, luỹ kế số thanh toán từ khởi công đến hết niên độ ngân sách nhà nước cho từng dự án.
4. Đối với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh:
Thực hiện chế độ báo cáo về tình hình thực hiện kế hoạch vốn đầu tư của các dự án giai đoạn 2 theo quy định tại Quyết định số 52/2007/QĐ-TTg ngày 16/4/2007 của Thủ tướng Chính phủ về Chế độ báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch vốn đầu tư nhà nước, Thông tư số 05/2007/TT-BKH ngày 09/8/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành các biểu mẫu báo cáo và hướng dẫn thực hiện Quyết định số 52/2007/QĐ-TTg ngày 16/4/2007 và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có).
Cơ quan nhận báo cáo bao gồm: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Bộ Xây dựng.