vanban.org

Điều 15. Giao kim khí quý, đá quý đã kiểm định — Thông tư 17/2014/TT-NHNN

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ban hành 01/08/2014 Hiệu lực 15/09/2014 Hết hiệu lực một phần 2 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 đời thông tư · 4 phiên bản · 13 năm
Thông tư số 17/2014/TT-NHNN Quy định về phân loại, đóng gói, giao nhận kim khí quý, đá quý · 17/2014/TT-NHNN
15/11/202533/2025/TT-NHNNSửa đổi, bổ sung Hiện hành 15/09/2014Bản gốcThay thế
Thông tư số 05/2013/TT-NHNN Sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế phân loại, kiểm định, đóng gói, giao nhận kim khí quý, đá quý trong ngành ngân hàng ban hành theo Quyết định số 78/2000/QĐ-NHNN6 ngày 06 tháng 3 năm 2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước · 05/2013/TT-NHNN
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 17/2014/TT-NHNN › Chương III › Mục 2 › Điều 15
Đọc toàn văn

Điều 15. Giao kim khí quý, đá quý đã kiểm định

Sửa đổi bởi 33/2025/TT-NHNN · hiệu lực 15/11/2025

1. Khi giao kim khí quý, đá quý phải có đầy đủ các loại giấy tờ sau:

a) Lệnh xuất kho của cấp có thẩm quyền Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng;

b) Phiếu xuất kho;

c) Giấy ủy quyền của người nhận, đơn vị nhận (nếu nhận thay);

d) Thẻ căn cước hoặc thẻ căn cước công dân hoặc căn cước điện tử hoặc hộ chiếu của người nhận.

2. Căn cứ vào phiếu xuất kho, thủ kho tiền phải lập bảng kê số hiện vật xuất kho theo mẫu tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này và ghi sổ theo dõi, ghi thẻ kho rồi mới đem hiện vật ra giao. Trước khi mở gói, hộp hiện vật, các thành viên xuất kho phải kiểm tra lại niêm phong; trường hợp còn nguyên niêm phong thì thực hiện mở gói, hộp; trường hợp không còn nguyên niêm phong thì báo cáo cấp có thẩm quyền của đơn vị mình xem xét xử lý theo quy định và thủ kho tiền chịu trách nhiệm về số lượng, chất lượng và khối lượng hiện vật trong gói, hộp đó. Sau khi mở gói, hộp, phải căn cứ vào biên bản giao nhận, phiếu kiểm định hiện vật và bảng kê cũ để đối chiếu lại số lượng, khối lượng; chất lượng cho khớp đúng rồi mới tiến hành xuất theo phiếu xuất kho. Khi xuất kho phải lập biên bản giao nhận theo mẫu tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này. Trường hợp xuất chưa hết số hiện vật trong gói, hộp thì số hiện vật còn lại là chênh lệch giữa số liệu nhập kho ban đầu với số liệu xuất kho lần này. Số hiện vật còn lại sẽ được đóng gói, niêm phong kèm theo bảng kê nhập kho ban đầu và bảng kê xuất kho lần này. Thẻ kho vẫn giữ nguyên số hiệu cũ.