Điều 11. Nguyên tắc tính hao mòn tài sản cố định
1. Các loại tài sản cố định sau đây không phải tính hao mòn:
a) Tài sản cố định là quyền sử dụng đất;
b) Tài sản cố định đặc biệt được quy định tại Điều 5 Thông tư này;
c) Tài sản cố định đơn vị đang thuê sử dụng;
d) Tài sản cố định bảo quản hộ, giữ hộ, cất trữ hộ Nhà nước;
đ) Các tài sản cố định đã tính hao mòn đủ nhưng vẫn còn sử dụng được;
e) Các tài sản cố định chưa tính hết hao mòn nhưng đã hỏng không tiếp tục sử dụng được.
2. Việc tính hao mòn tài sản cố định thực hiện mỗi năm 1 lần vào tháng 12, trước khi khóa sổ kế toán hoặc bất thường. Phạm vi tài sản cố định phải tính hao mòn là tất cả tài sản cố định hiện có (trừ các tài sản cố định quy định tại Khoản 1 Điều này) tính đến ngày 31 tháng 12 của năm tính hao mòn.
Riêng các tài sản cố định tham gia toàn bộ thời gian vào hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ hoặc vừa sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ, vừa sử dụng vào hoạt động theo chức năng nhiệm vụ của đơn vị thì việc tính hao mòn và trích khấu hao tài sản cố định thực hiện theo quy định tại Điều 14 Thông tư này.
3. Trường hợp bàn giao, chia tách, sáp nhập, giải thể cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc tổng kiểm kê đánh giá lại tài sản cố định theo chủ trương của Nhà nước thì hao mòn tài sản cố định được tính tại thời điểm có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.