Điều 8. Xác định nguyên giá tài sản kết cấu hạ tầng trong trường hợp thay đổi nguyên giá tài sản
Khi phát sinh việc thay đổi nguyên giá tài sản kết cấu hạ tầng trong các trường hợp quy định tại Điều 7 Thông tư này, đối tượng quản lý tài sản thực hiện lập Biên bản ghi rõ lý do (trường hợp) thay đổi nguyên giá; đồng thời xác định lại chỉ tiêu nguyên giá của tài sản kết cấu hạ tầng làm cơ sở xác định mức hao mòn, khấu hao, giá trị còn lại của tài sản để điều chỉnh sổ kế toán và thực hiện việc quản lý, tính hao mòn, trích khấu hao theo quy định tại Thông tư này.
Việc xác định lại nguyên giá tài sản kết cấu hạ tầng đối với các trường hợp thay đổi nguyên giá quy định tại Điều 7 Thông tư này được thực hiện như sau:
1. Đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 7 Thông tư này, nguyên giá tài sản kết cấu hạ tầng được xác định lại theo quyết định, hướng dẫn của cơ quan, người có thẩm quyền về kiểm kê, đánh giá lại tài sản.
2. Đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 7 Thông tư này, nguyên giá tài sản kết cấu hạ tầng được xác định lại bằng (=) nguyên giá đang hạch toán cộng (+) phần giá trị tăng thêm do đầu tư nâng cấp, mở rộng tài sản kết cấu hạ tầng được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt. Trong đó, phần giá trị tăng thêm do nâng cấp, mở rộng theo dự án được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt được xác định tương tự quy định tại khoản 2 Điều 6 Thông tư này.
Trường hợp dự án được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt để đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo, mở rộng tài sản khác nhưng trong dự án có nội dung đầu tư vào tài sản kết cấu hạ tầng hiện có và trường hợp chủ đầu tư dự án đầu tư nâng cấp, cải tạo, mở rộng tài sản không phải là đối tượng quản lý tài sản thì phần giá trị tăng thêm do nâng cấp, cải tạo, mở rộng tài sản kết cấu hạ tầng là phần giá trị đầu tư vào tài sản kết cấu hạ tầng trong giá trị quyết toán của dự án được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt.
3. Đối với trường hợp tháo dỡ một hay một số bộ phận tài sản kết cấu hạ tầng quy định tại khoản 3 Điều 7 Thông tư này, nguyên giá tài sản kết cấu hạ tầng được xác định lại bằng (=) nguyên giá đang hạch toán trừ (-) phần giá trị của bộ phận tài sản kết cấu hạ tầng tháo dỡ cộng (+) chi phí hợp lý liên quan trực tiếp đến việc tháo dỡ mà đối tượng quản lý tài sản đã chi ra tính đến thời điểm hoàn thành việc tháo dỡ, trừ việc tháo dỡ một hay một số bộ phận tài sản để thay thế khi bảo trì công trình.
Trong đó, phần giá trị của bộ phận tài sản kết cấu hạ tầng tháo dỡ được xác định như sau:
a) Trường hợp có hồ sơ xác định giá mua, giá trị quyết toán/giá trị dự toán của bộ phận tài sản kết cấu hạ tầng tháo dỡ thì phần giá trị của bộ phận tài sản tháo dỡ được xác định theo giá mua, giá trị quyết toán/giá trị dự toán của bộ phận tài sản tháo dỡ.
b) Trường hợp không có hồ sơ quy định tại điểm a khoản này nhưng phân bổ được nguyên giá của tài sản kết cấu hạ tầng cho bộ phận tài sản tháo dỡ theo tiêu chí phù hợp (như: số lượng/khối lượng/giá mua/dự toán/tiêu chí khác (nếu có)) thì phần giá trị của bộ phận tài sản kết cấu hạ tầng tháo dỡ được xác định theo giá trị phân bổ.
c) Trường hợp không có hồ sơ quy định tại điểm a khoản này và không phân bổ được nguyên giá của tài sản kết cấu hạ tầng cho bộ phận tài sản tháo dỡ quy định tại điểm b khoản này thì xác định phần giá trị của bộ phận tài sản tháo dỡ là giá mua mới của bộ phận tài sản đó trên thị trường tại thời điểm đưa tài sản vào sử dụng.
Trường hợp không xác định được giá mua mới của bộ phận tài sản kết cấu hạ tầng tháo dỡ trên thị trường tại thời điểm đưa tài sản vào sử dụng thì đối tượng quản lý tài sản thuê doanh nghiệp thẩm định giá hoặc thành lập Hội đồng để xác định phần giá trị của bộ phận tài sản kết cấu hạ tầng tháo dỡ làm căn cứ xác định nguyên giá tài sản sau khi tháo dỡ; nguyên giá tài sản trong trường hợp này bao gồm cả chi phí xác định giá.
Chi phí xác định giá được bố trí từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước hoặc nguồn kinh phí hợp pháp của đối tượng quản lý tài sản và được tính vào nguyên giá của tài sản.
4. Đối với trường hợp lắp đặt thêm một hay một số bộ phận tài sản kết cấu hạ tầng quy định tại khoản 4 Điều 7 Thông tư này, nguyên giá tài sản kết cấu hạ tầng được xác định lại bằng (=) nguyên giá đang hạch toán cộng (+) phần giá trị tăng thêm do lắp đặt thêm một hay một số bộ phận tài sản kết cấu hạ tầng (+) chi phí hợp lý liên quan trực tiếp đến việc lắp đặt mà đối tượng quản lý tài sản đã chi ra tính đến thời điểm hoàn thành việc lắp đặt, trừ việc lắp đặt thêm một hay một số bộ phận tài sản để thực hiện bảo trì công trình thuộc tài sản kết cấu hạ tầng.
Trong đó, phần giá trị tăng thêm do lắp đặt thêm một hay một số bộ phận tài sản kết cấu hạ tầng là giá trị tương ứng của bộ phận tài sản được lắp đặt thêm được xác định theo các trường hợp tương ứng quy định tại Điều 6 Thông tư này.
5. Đối với trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 7 Thông tư này, đối tượng quản lý tài sản thuê doanh nghiệp thẩm định giá hoặc thành lập Hội đồng để đánh giá lại giá trị còn lại, thời gian sử dụng để tính hao mòn/trích khấu hao còn lại của tài sản. Nguyên giá tài sản kết cấu hạ tầng trong trường hợp này được xác định như sau:
| Nguyên giá tài sản kết cấu hạ tầng | = | Giá trị còn lại của tài sản theo đánh giá lại | x | Thời gian sử dụng để tính hao mòn/trích khấu hao của tài sản theo quy định tại Điều 10 Thông tư này (năm) | + | Chi phí xác định giá |
| Thời gian sử dụng để tính hao mòn/trích khấu hao còn lại của tài sản theo đánh giá lại (năm) |
Trong đó: Chi phí xác định giá được bố trí từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước hoặc nguồn kinh phí hợp pháp của đối tượng quản lý tài sản và được tính vào nguyên giá của tài sản.