Điều 6. Đối tượng, tiêu chuẩn xét tặng Kỷ niệm chương đối với cá nhân khác có công lao đóng góp cho sự phát triển của ngành Tư pháp
1. Cá nhân giữ chức vụ lãnh đạo có công lao đóng góp cho sự phát triển của ngành Tư pháp được đề nghị xét tặng Kỷ niệm chương:
a) Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu các Ban Đảng Trung ương, Văn phòng Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; thành viên Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Thường trực của các tổ chức chính trị - xã hội thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
b) Bí thư, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, thành phố.
2. Cá nhân là thành viên Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh; Giám đốc, Phó Giám đốc sở, ban, ngành và tương đương cấp tỉnh có thời gian trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tư pháp từ đủ 07 năm liên tục trở lên đối với cấp trưởng là nam, từ đủ 05 năm liên tục trở lên đối với cấp trưởng là nữ; từ đủ 10 năm liên tục trở lên đối với cấp phó là nam, từ đủ 08 năm liên tục trở lên đối với cấp phó là nữ.
3. Cá nhân là người Việt Nam ở nước ngoài, người Việt Nam ở trong nước nhưng đang làm việc cho các cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế tại Việt Nam; người nước ngoài được đề nghị xét tặng Kỷ niệm chương khi có công lao, thành tích xuất sắc trong việc xây dựng và củng cố mối quan hệ hợp tác giữa các nước, các cơ quan, tổ chức đó với Bộ Tư pháp, đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng, phát triển ngành Tư pháp.
4. Các trường hợp khác theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.