vanban.org

Điều 8. Phê chuẩn quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm — Thông tư 121/2011/TT-BTC

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 02/06/2020 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 4/4 · từ 02/06/2020 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 28/2020/TT-BTC · 17/04/2020 Sửa đổi, bổ sung: 57/2013/TT-BTC · 06/05/2013
Bộ Tài chính Ban hành 17/08/2011 Hiệu lực 01/10/2011 Hết hiệu lực toàn bộ 1 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 4 phiên bản · 15 năm
Thông tư số 121/2011/TT-BTC Hướng dẫn một số điều của Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013 · 121/2011/TT-BTC
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 121/2011/TT-BTC › Chương II › Mục 2 › Điều 8
Đọc toàn văn

Điều 8. Phê chuẩn quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm

1. Quy tắc, điều khoản, biểu phí do doanh nghiệp bảo hiểm xây dựng phải đảm bảo:

a) Tuân thủ pháp luật;

b) Ngôn ngữ sử dụng trong quy tắc, điều khoản bảo hiểm phải chính xác, cách diễn đạt đơn giản, dễ hiểu. Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung và phải định nghĩa rõ trong quy tắc, điều khoản bảo hiểm;

c) Thể hiện rõ ràng, minh bạch quyền lợi có thể được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, phạm vi và các rủi ro được bảo hiểm, quyền lợi và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm, trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, phương thức trả tiền bảo hiểm, các quy định giải quyết tranh chấp;

d) Phí bảo hiểm phải được xây dựng dựa trên số liệu thống kê, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm và phải tương ứng với điều kiện và trách nhiệm bảo hiểm;

đ) Xác định rõ đơn vị bảo hiểm đối với từng đối tượng được bảo hiểm (cây lúa thực hiện bảo hiểm theo đơn vị huyện; vật nuôi, thủy sản thực hiện bảo hiểm theo từng xã, hộ nông dân, cá nhân hoặc tổ chức sản xuất nông nghiệp đáp ứng tiêu chí về quy mô theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn); mức miễn thường; cách thức cấp đơn bảo hiểm; cách thức xác định giá trị tổn thất và bồi thường bảo hiểm đối với từng loại hình bảo hiểm theo chỉ số và bảo hiểm truyền thống;

e) Có xác nhận của chuyên gia tính phí.

2. Hồ sơ đề nghị phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm:

Trước khi triển khai sản phẩm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải được Bộ Tài chính phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm. Hồ sơ đề nghị phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm bao gồm:

a) Văn bản đề nghị phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm trong đó cam kết doanh nghiệp bảo hiểm chịu trách nhiệm về nội dung và tính hợp pháp của quy tắc, điều khoản bảo hiểm;

b) Quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm của sản phẩm bảo hiểm dự kiến triển khai;

c) Công thức, phương pháp và giải trình cơ sở kỹ thuật dùng để tính phí, dự phòng nghiệp vụ của sản phẩm bảo hiểm dự kiến triển khai;

d) Các tài liệu có liên quan bao gồm: mẫu giấy yêu cầu bảo hiểm, tài liệu giới thiệu sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, tài liệu minh họa bán hàng, các mẫu đơn mà khách hàng kê khai và ký vào khi mua bảo hiểm. Các tài liệu này là một bộ phận của hợp đồng bảo hiểm. Hợp đồng đại lý bảo hiểm (trong đó quy định rõ trách nhiệm của đại lý bảo hiểm trong việc thu phí bảo hiểm, giám định tổn thất, thu xếp giải quyết bồi thường bảo hiểm).

3. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ quy định tại khoản 2 Điều này, Bộ Tài chính có văn bản xin ý kiến Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có liên quan về việc phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm.

4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ Bộ Tài chính gửi xin ý kiến, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có liên quan có ý kiến bằng văn bản về việc chấp thuận hoặc không chấp thuận. Trong trường hợp không chấp thuận, phải giải thích rõ lý do.

5. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có liên quan, Bộ Tài chính có văn bản chấp thuận hoặc từ chối chấp thuận. Trong trường hợp từ chối, Bộ Tài chính có văn bản giải thích lý do.