Điều 15. Chế độ báo cáo
1. Doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện lập và gửi cho Bộ Tài chính các báo cáo nghiệp vụ theo quý và năm và kèm theo bản điện tử theo mẫu quy định tại Phụ lục 3, 4, 5, 6, 7, 8 kèm theo Thông tư này.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện lập và gửi cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố các báo cáo liên quan đến kết quả hoạt động thí điểm bảo hiểm nông nghiệp tại địa bàn triển khai thí điểm theo quý và năm và kèm theo bản điện tử theo mẫu quy định tại Phụ lục 3, 4, 5, 6, 7 kèm theo Thông tư này.
3. Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam có trách nhiệm lập và gửi các báo cáo sau:
a) Báo cáo doanh thu tái bảo hiểm quý, năm theo mẫu quy định tại Phụ lục 9 kèm theo Thông tư này;
b) Báo cáo bồi thường tái bảo hiểm quý, năm theo mẫu quy định tại Phụ lục 10 kèm theo Thông tư này.
4. Thời hạn nộp báo cáo:
a) Báo cáo quý: doanh nghiệp bảo hiểm, Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam lập và gửi Bộ Tài chính chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày kết thúc quý.
b) Báo cáo năm: doanh nghiệp bảo hiểm, Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam lập và gửi Bộ Tài chính chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
5. Ngoài các báo cáo nghiệp vụ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, Bộ Tài chính có thể yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam báo cáo bổ sung về tình hình hoạt động, tình hình tài chính của doanh nghiệp để phục vụ cho công tác thống kê và đánh giá tình hình triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp.
6. Doanh nghiệp bảo hiểm, Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của các báo cáo của mình.