Điều 5. Xét tặng Kỷ niệm chương cho cá nhân cộng tác với lực lượng Công an nhân dân
1. Đối tượng, tiêu chuẩn
a) Cá nhân có nhiều thành tích trong cộng tác với cơ quan Công an trong đấu tranh phòng, chống tội phạm; không vi phạm nguyên tắc, chế độ công tác; có thời gian cộng tác từ 15 năm trở lên đối với nam, 10 năm trở lên đối với nữ thì được xét tặng Kỷ niệm chương;
b) Cá nhân tuy chưa có đủ thời gian cộng tác nhưng lập được thành tích đặc biệt xuất sắc; hy sinh hoặc bị thương trong khi làm nhiệm vụ, không còn đủ sức khỏe để tiếp tục cộng tác thì được xét tặng Kỷ niệm chương.
2. Hồ sơ, thủ tục và tuyến trình
a) Căn cứ vào thành tích của các cá nhân, đối chiếu với tiêu chuẩn quy định, thủ trưởng Công an đơn vị, địa phương ký văn bản báo cáo xin chủ trương đồng chí lãnh đạo Bộ Công an phụ trách chuyên môn về thành tích, danh sách đề nghị xét tặng Kỷ niệm chương;
b) Sau khi có chủ trương đồng ý xét tặng Kỷ niệm chương của lãnh đạo Bộ Công an, thủ trưởng Công an đơn vị, địa phương ký tờ trình Bộ trưởng Bộ Công an (qua Cục Công tác đảng và công tác chính trị). Tờ trình chỉ nêu số lượng cá nhân đã được lãnh đạo Bộ nhất trí (kèm theo bản phô tô văn bản có ý kiến đồng ý của lãnh đạo Bộ), không gửi danh sách và báo cáo thành tích của cá nhân đề nghị tặng Kỷ niệm chương;
c) Cục Công tác đảng và công tác chính trị báo cáo lãnh đạo Bộ Công an ký quyết định tặng Kỷ niệm chương (Quyết định chỉ nêu số lượng cá nhân được tặng Kỷ niệm chương) và bàn giao hiện vật cho Công an đơn vị, địa phương để trao tặng và lưu hồ sơ.
3. Cá nhân cộng tác với lực lượng Công an nhân dân không chấp hành nguyên tắc bảo mật theo yêu cầu công tác sẽ bị hủy bỏ quyết định và thu hồi bằng chứng nhận, huy hiệu.