Điều 8. Chế độ báo cáo
1. Hàng ngày, các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực liên quan an ninh, trật tự, an toàn xã hội phải tập hợp và báo cáo lãnh đạo đơn vị mình số vụ việc đã lập biên bản và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
2. Hàng tuần, Công an các đơn vị, địa phương báo cáo về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực liên quan an ninh, trật tự, an toàn xã hội lên cấp trên trực tiếp.
3. Hàng tháng, vào ngày cuối cùng của tháng, các Tổng cục, đơn vị trực thuộc Bộ, Công an, Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi báo cáo về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực liên quan an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo lực lượng và về Bộ Công an (qua Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp).
4. Các Tổng cục, đơn vị trực thuộc Bộ, Công an, Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi báo cáo 06 tháng, 01 năm về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực liên quan an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo lực lượng và về Bộ Công an (qua Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp). Thời gian gửi báo cáo thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 25 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP.
5. Nội dung báo cáo về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực liên quan an ninh, trật tự, an toàn xã hội thực hiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 25 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP.
6. Hình thức báo cáo
a) Báo cáo bằng văn bản;
b) Báo cáo qua mạng máy tính nội bộ có bảo mật (qua cơ yếu);
c) Báo cáo qua cập nhập thông tin về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực liên quan an ninh, trật tự, an toàn xã hội vào cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính trong Công an nhân dân.
7. Việc thực hiện báo cáo quy định tại điểm c khoản 6 Điều này thực hiện theo quy định khác của Bộ Công an.