Điều 7. Danh hiệu, tiêu chuẩn danh hiệu thi đua đối với cá nhân
1. Danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sỹ tiên tiến” (sau đây gọi chung là “Lao động tiên tiến”) được xét công nhận mỗi năm một lần vào dịp tổng kết năm công tác của cơ quan, đơn vị đối với cá nhân thuộc đối tượng được quy định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư này, đạt được những tiêu chuẩn sau:
a) Hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đạt năng suất, chất lượng cao;
b) Chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế làm việc của cơ quan, có tinh thần tự lực, đoàn kết, tương trợ, tích cực tham gia các phong trào thi đua;
c) Tích cực học tập chính trị, văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ;
d) Có đạo đức, lối sống lành mạnh.
Đối với các trường hợp là nữ cán bộ, công chức, viên chức, lao động không xác định thời hạn, nghỉ thai sản theo chế độ quy định của Nhà nước và những người có hành động dũng cảm cứu người, cứu tài sản, những người trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, trong thực thi công vụ bị thương phải điều trị, điều dưỡng theo kết luận của cơ quan y tế thì thời gian nghỉ vẫn được tính để xét tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến” làm căn cứ xét tặng các danh hiệu khác.
Cá nhân đi học, bồi dưỡng ngắn hạn dưới 01 năm, nếu đạt kết quả từ loại khá trở lên, chấp hành tốt quy định của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thì kết hợp với thời gian công tác ở cơ quan để bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”. Các trường hợp đi đào tạo từ 01 năm trở lên, có kết quả học tập từ loại khá trở lên thì năm đó được xếp tương đương danh hiệu “Lao động tiên tiến” để làm căn cứ xét tặng các danh hiệu khác.
Đối với cá nhân thuyên chuyển công tác và có thời gian công tác tại cơ quan cũ từ 06 tháng trở lên thì cơ quan, đơn vị mới có trách nhiệm xem xét, bình bầu danh hiệu “Lao động tiên tiến” cho cá nhân đó trên cơ sở ý kiến nhận xét của cơ quan, đơn vị cũ.
Không xét tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến” cho các trường hợp không đăng ký thi đua; mới tuyển dụng dưới 10 tháng; nghỉ việc từ 40 ngày làm việc trở lên (không tính thời gian nghỉ phép); bị xử phạt hành chính hoặc đang trong thời gian chấp hành hình thức kỷ luật từ khiển trách trở lên.
2. Danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở”
Danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở” được xét tặng mỗi năm một lần vào dịp tổng kết năm công tác của cơ quan, đơn vị đối với cá nhân đạt các tiêu chuẩn quy định tại khoản 1, 2 Điều 13 Nghị định số 42/2010/NĐ-CP.
a) Là cá nhân tiêu biểu trong số cá nhân đạt danh hiệu “Lao động tiên tiến”;
b) Có sáng kiến cải tiến kỹ thuật hoặc giải pháp công tác nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, hoặc có đề tài nghiên cứu, hoặc tham gia trong nhóm nghiên cứu đề tài khoa học, hoặc áp dụng công nghệ mới, hoặc có báo cáo tổng kết, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn về công tác chuyên môn được phổ biến và áp dụng vào thực tiễn công tác, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, của ngành Thanh tra.
Sáng kiến cải tiến, đề tài nghiên cứu cấp cơ sở, báo cáo tổng kết chuyên đề do Hội đồng xét duyệt sáng kiến cấp cơ sở xét duyệt, công nhận. Hội đồng xét duyệt sáng kiến cấp cơ sở do Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xét tặng danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở” quyết định thành lập.
3. Danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được xét tặng thường xuyên hàng năm đối với cá nhân đạt hai tiêu chuẩn quy định tại Điều 14, Nghị định số 42/2010/NĐ-CP của Chính phủ.
a) Có thành tích tiêu biểu, xuất sắc trong số những cá nhân có ba năm liên tục đạt danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở”;
b) Thành tích, sáng kiến, giải pháp công tác, đề tài nghiên cứu của cá nhân đó có tác dụng, ảnh hưởng đối với Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ngành Thanh tra và do Hội đồng khoa học, sáng kiến cấp Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xét công nhận.
Hội đồng khoa học, sáng kiến cấp Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập.
4. Tiêu chuẩn danh hiệu “Chiến sỹ thi đua toàn quốc”
Danh hiệu “Chiến sỹ thi đua toàn quốc” xét tặng hàng năm cho cá nhân đạt hai tiêu chuẩn quy định tại Điều 15, Nghị định số 42/2010/NĐ-CP.
a) Là cá nhân có thành tích xuất sắc, tiêu biểu được lựa chọn trong số cá nhân có hai lần liên tục đạt danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cấp Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”;
b) Thành tích, sáng kiến, giải pháp công tác, đề tài nghiên cứu của cá nhân đó có phạm vi ảnh hưởng rộng đối với toàn quốc.
Việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của sáng kiến, giải pháp công tác, đề tài nghiên cứu do Hội đồng khoa học, sáng kiến cấp Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xét công nhận.