Điều 7. Lấy ý kiến trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
1. Trong quá trình xây dựng hồ sơ lập đề nghị và soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, đơn vị chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến theo quy định tại Điều 5, Điều 6, Điều 10 và Điều 25 Thông tư này và lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan bằng các phương thức quy định tại Điều 36, Điều 57, Điều 86, điểm d khoản 2 Điều 97, khoản 2 Điều 101 của Luật và phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến.
2. Ngoài việc lấy ý kiến theo quy định tại khoản 1 Điều này, đối với dự thảo văn bản có nội dung phức tạp hoặc yếu tố kỹ thuật chuyên ngành trong trường hợp cần thiết, khi tiến hành lập hồ sơ đề nghị, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 10 và Điều 25 Thông tư này, đơn vị chủ trì soạn thảo văn bản có thể lấy ý kiến của các chuyên gia. Việc lấy ý kiến chuyên gia phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây:
a) Chuyên gia được lấy ý kiến phải là người am hiểu và có chuyên môn, có kinh nghiệm phù hợp với nội dung được lấy ý kiến;
b) Chuyên gia đã tham gia xây dựng nội dung chính sách, đánh giá tác động của chính sách, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật thì không tham gia thẩm định, thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đó;
c) Trong quá trình lấy ý kiến, đơn vị chủ trì soạn thảo có thể lựa chọn phương thức lấy ý kiến chuyên gia cho phù hợp với tính chất công việc và nhu cầu của đơn vị mình;
d) Chế độ, tiền thù lao và tiền hỗ trợ cho các chuyên gia theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 175 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và Thông tư số 338/2016/TT-BTC ngày 28 tháng 12 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật.