vanban.org

Điều 7. Trình tự soạn thảo Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định — Thông tư 08/2013/TT-BVHTTDL

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 30/08/2016 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 30/08/2016 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 05/2016/TT- BVHTTDL · 29/06/2016
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ban hành 20/11/2013 Hiệu lực 01/01/2014 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời thông tư · 4 phiên bản · 14 năm
Thông tư số 08/2013/TT-BVHTTDL Quy định về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì soạn thảo hoặc ban hành · 08/2013/TT-BVHTTDL
30/08/201605/2016/TT- BVHTTDLBãi bỏ Đang xem 01/01/2014Bản gốcThay thế
Thông tư số 13/2011/TT-BVHTTDL Quy định về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch · 13/2011/TT-BVHTTDL
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 08/2013/TT-BVHTTDL › Chương III › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Trình tự soạn thảo Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quyết định

1. Đối với những văn bản do Bộ Văn hóa , Thể thao và Du lịch được giao chủ trì soạn thảo, phải thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập theo quy định tại các Điều 20 và 25 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP. Tổ chức và hoạt động của Ban soạn thảo thực hiện theo quy định tại các Điều 21, 22, 23 và 24 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP.

2. Cơ quan chủ trì soạn thảo là đầu mối giúp Bộ trưởng thực hiện các nhiệm vụ sau:

a) Bảo đảm các điều kiện hoạt động của Ban soạn thảo và Tổ biên tập;

b) Phối hợp và tạo điều kiện cho Ban soạn thảo tổng kết tình hình thi hành pháp luật; đánh giá tác động trước và trong quá trình soạn thảo Luật, Pháp lệnh, Nghị định; đánh giá tác động thủ tục hành chính đối với văn bản có nội dung quy định về thủ tục hành chính; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung dự thảo; tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có liên quan đến dự thảo; chuẩn bị đề cương, biên soạn, tổ chức lấy ý kiến và chỉnh lý dự thảo trước khi gửi thẩm định;

c) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan chuẩn bị dự thảo các văn bản quy định chi tiết thi hành.

3. Tổ chức lấy ý kiến trong quá trình soạn thảo:

a) Tổ chức lấy ý kiến của các tổ chức, cá nhân và các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, bằng các hình thức: Lấy ý kiến trực tiếp; gửi dự thảo để góp ý; tổ chức hội thảo; thông qua trang thông tin điện tử của Chính phủ, của Bộ hoặc các phương tiện thông tin đại chúng;

b) Cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi dự thảo văn bản đến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; đăng tải nội dung dự thảo trên trang thông tin điện tử của Chính phủ, của Bộ để lấy ý kiến về nội dung của dự thảo. Việc đăng tải dự thảo trên trang thông tin điện tử của Bộ thực hiện theo quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều 8 Thông tư này.

Trường hợp văn bản có quy định về thủ tục hành chính, cơ quan chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Bộ Tư pháp theo quy định tại Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính (sau đây gọi tắt là Nghị định số 48/2013/NĐ-CP);

c) Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến góp ý của các tổ chức, cá nhân. Trường hợp không tiếp thu ý kiến góp ý, cơ quan chủ trì soạn thảo phải giải trình cụ thể bằng văn bản.