Điều 6. Quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, thay đổi về thông tin, cấp, cấp lại và thu hồi thẻ giám định viên tư pháp
1. Đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, thay đổi về thông tin, cấp, cấp lại và thu hồi thẻ giám định viên tư pháp theo quy định của Chính phủ quy định chi tiết khoản 8 Điều 11 Luật số 105/2025/QH15 và quy định tại Thông tư này.
2. Bổ nhiệm, cấp thẻ giám định viên tư pháp:
a) Đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước lập hồ sơ đề nghị bổ nhiệm và cấp thẻ giám định viên tư pháp gửi Vụ Tổ chức cán bộ và Thanh tra Ngân hàng Nhà nước gồm: Văn bản đề nghị bổ nhiệm và cấp thẻ giám định viên tư pháp của Thủ trưởng đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước nơi người đề nghị bổ nhiệm làm việc; Đơn đề nghị bổ nhiệm và cấp thẻ giám định viên tư pháp của cá nhân; Bản sao Bằng tốt nghiệp đại học trở lên với chuyên ngành đào tạo phù hợp với lĩnh vực chuyên môn được đề nghị bổ nhiệm làm giám định viên tư pháp; Xác nhận thời gian hoạt động chuyên môn của người đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp theo Phụ lục 01 ban hành kèm theo Thông tư này; Bản sao Giấy chứng nhận bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ giám định tư pháp; 02 ảnh màu chân dung cỡ 02 cm x 03 cm hoặc bản điện tử ảnh màu cỡ 02 cm x 03 cm, được chụp không quá 06 tháng trước ngày đề nghị bổ nhiệm;
b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Vụ Tổ chức cán bộ trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xem xét, quyết định việc bổ nhiệm, cấp thẻ giám định viên tư pháp và giao Thanh tra Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc cấp thẻ. Trường hợp từ chối, Vụ Tổ chức cán bộ có văn bản thông báo gửi đơn vị đề nghị và nêu rõ lý do;
c) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định bổ nhiệm, cấp thẻ giám định viên tư pháp, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước thực hiện cấp thẻ giám định viên tư pháp theo quy định.
3. Miễn nhiệm, thu hồi thẻ giám định viên tư pháp:
a) Đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước lập hồ sơ đề nghị miễn nhiệm và thu hồi thẻ giám định viên tư pháp gửi Vụ Tổ chức cán bộ và Thanh tra Ngân hàng Nhà nước gồm: Văn bản đề nghị miễn nhiệm và thu hồi thẻ giám định viên tư pháp của Thủ trưởng đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước nơi giám định viên tư pháp làm việc; Đơn đề nghị miễn nhiệm và thu hồi thẻ giám định viên tư pháp của cá nhân; Tài liệu chứng minh giám định viên tư pháp thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 11 Luật số 105/2025/QH15;
b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Vụ Tổ chức cán bộ trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xem xét, quyết định việc miễn nhiệm, thu hồi thẻ giám định viên tư pháp và giao Thanh tra Ngân hàng Nhà nước thu hồi thẻ;
c) Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định việc miễn nhiệm và thu hồi thẻ giám định viên tư pháp, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước thực hiện thu hồi thẻ giám định viên tư pháp theo quy định.
4. Bổ nhiệm lại, cấp thẻ giám định viên tư pháp:
a) Đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước lập hồ sơ đề nghị bổ nhiệm lại và cấp thẻ giám định viên tư pháp gửi Vụ Tổ chức cán bộ và Thanh tra Ngân hàng Nhà nước gồm: Văn bản đề nghị bổ nhiệm lại và cấp thẻ giám định viên tư pháp của Thủ trưởng đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước nơi người đề nghị bổ nhiệm lại làm việc; Đơn đề nghị bổ nhiệm lại và cấp thẻ giám định viên tư pháp của cá nhân; Tài liệu chứng minh đủ điều kiện bổ nhiệm lại giám định viên tư pháp theo quy định tại khoản 6 Điều 11 Luật số 105/2025/QH15; 02 ảnh màu chân dung cỡ 02 cm x 03 cm hoặc bản điện tử ảnh màu cỡ 02 cm x 03 cm, được chụp không quá 06 tháng trước ngày đề nghị bổ nhiệm lại;
b) Quy trình bổ nhiệm lại và cấp thẻ giám định viên tư pháp được thực hiện theo quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều này.
5. Cấp lại thẻ giám định viên tư pháp:
a) Đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước lập hồ sơ đề nghị cấp lại thẻ giám định viên tư pháp trong trường hợp thẻ đã được cấp bị mất, bị hỏng (rách, bẩn, mờ) không thể sử dụng được gửi Thanh tra Ngân hàng Nhà nước gồm: Văn bản đề nghị cấp lại thẻ giám định viên tư pháp của Thủ trưởng đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước nơi giám định viên tư pháp làm việc; Đơn đề nghị cấp lại thẻ giám định viên tư pháp của cá nhân;
b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xem xét, quyết định việc cấp lại thẻ giám định viên tư pháp và giao Thanh tra Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc cấp lại thẻ. Trường hợp từ chối, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước có văn bản thông báo gửi đơn vị đề nghị và nêu rõ lý do;
c) Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định cấp lại thẻ giám định viên tư pháp, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước thực hiện cấp lại thẻ giám định viên tư pháp theo quy định;
d) Trường hợp cấp lại thẻ do có sự thay đổi về thông tin đã được ghi trên thẻ thì được thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều này.
6. Trường hợp có sự thay đổi về thông tin liên quan đến giám định viên tư pháp đã được bổ nhiệm:
a) Thủ trưởng đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước có văn bản gửi Vụ Tổ chức cán bộ đề nghị thay đổi về thông tin giám định viên tư pháp đã được bổ nhiệm;
b) Trường hợp thay đổi về thông tin giám định viên tư pháp không làm thay đổi thông tin đã ghi trên thẻ giám định viên tư pháp, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Thủ trưởng đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước, Vụ Tổ chức cán bộ phối hợp với Thanh tra Ngân hàng Nhà nước cập nhật danh sách giám định viên tư pháp trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt danh sách, gửi Bộ Tư pháp để đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp; đồng thời gửi Văn phòng để thực hiện đăng tải danh sách trên Cổng thông tin điện tử Ngân hàng Nhà nước, gửi Thanh tra Ngân hàng Nhà nước để theo dõi;
c) Trường hợp thay đổi về thông tin giám định viên tư pháp làm thay đổi thông tin đã ghi trên thẻ giám định viên tư pháp, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Thủ trưởng đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước, Vụ Tổ chức cán bộ phối hợp với Thanh tra Ngân hàng Nhà nước cập nhật danh sách giám định viên tư pháp trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt danh sách, xem xét, quyết định cấp lại thẻ giám định viên tư pháp và giao Thanh tra Ngân hàng Nhà nước thực hiện cấp lại thẻ giám định viên tư pháp, gửi Bộ Tư pháp đăng tải theo quy định tại điểm b khoản này. Sau khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt danh sách giám định viên tư pháp, Vụ Tổ chức cán bộ gửi Văn phòng để thực hiện đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Ngân hàng Nhà nước, gửi Thanh tra Ngân hàng Nhà nước để thực hiện việc cấp lại thẻ. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định cấp lại thẻ giám định viên tư pháp, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước thực hiện cấp lại thẻ giám định viên tư pháp theo quy định.
7. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, Vụ Tổ chức cán bộ lập danh sách giám định viên tư pháp, cập nhật danh sách giám định viên tư pháp trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt danh sách, gửi Bộ Tư pháp để đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp và gửi Văn phòng để thực hiện đăng tải danh sách trên Cổng thông tin điện tử Ngân hàng Nhà nước, gửi Thanh tra Ngân hàng Nhà nước để theo dõi. Kể từ ngày Quyết định miễn nhiệm của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực thi hành, thẻ giám định viên tư pháp hết hiệu lực.
8. Hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, thay đổi về thông tin, cấp, cấp lại và thu hồi thẻ giám định viên tư pháp được lập bằng tiếng Việt. Đơn vị tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm chủ động khai thác thông tin, dữ liệu đã có trên Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành và hệ thống thông tin theo quy định pháp luật để thay thế thành phần hồ sơ quy định là bản sao. Trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác không đầy đủ, không chính xác thì yêu cầu đơn vị đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại giám định viên tư pháp bổ sung thành phần hồ sơ để xem xét bổ nhiệm, bổ nhiệm lại theo quy định. Bản sao các tài liệu, văn bằng và bản dịch các tài liệu từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt trong hồ sơ là bản sao có chứng thực, bản sao được cấp từ sổ gốc theo quy định của pháp luật. Trường hợp các giấy tờ là bản sao mà không phải là bản sao được chứng thực hoặc bản sao được cấp từ sổ gốc, người lập hồ sơ phải xuất trình bản chính để đối chiếu khi nộp hồ sơ; người đối chiếu phải ký xác nhận vào bản sao và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao so với bản chính.