Điều 18. Thời hạn giám định tư pháp
1. Thời hạn giám định tư pháp:
a) Tối đa 09 ngày đối với trường hợp giám định tiền giả theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự;
b) Tối đa 01 tháng đối với trường hợp giám định tiền giấy, tiền kim loại do Ngân hàng Nhà nước phát hành;
c) Tối đa 01 tháng đối với trường hợp giám định hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng; bảo hiểm tiền gửi và phòng, chống rửa tiền;
d) Tối đa 02 tháng đối với trường hợp giám định hoạt động ngân hàng, bao gồm các nghiệp vụ: nhận tiền gửi; cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản;
đ) Tối đa 03 tháng đối với trường hợp vụ việc giám định có từ hai (02) đến bốn (04) nội dung giám định khác nhau trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối quy định tại Điều 3 Thông tư này hoặc có tính chất phức tạp hoặc khối lượng công việc lớn;
e) Tối đa 04 tháng đối với trường hợp vụ việc giám định có từ năm (05) nội dung giám định khác nhau trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối quy định tại Điều 3 Thông tư này hoặc có tính chất đặc biệt phức tạp hoặc khối lượng công việc đặc biệt lớn.
2. Thời hạn giám định tư pháp quy định tại khoản 1 Điều này được tính từ ngày người giám định tư pháp nhận được đầy đủ hồ sơ trưng cầu giám định tư pháp theo quyết định trưng cầu giám định tư pháp được trưng cầu.
3. Trường hợp phát sinh yêu cầu, đề nghị cần phải bổ sung thêm hồ sơ trưng cầu giám định tư pháp thì thời gian từ khi người giám định tư pháp có văn bản đề nghị, yêu cầu đến khi nhận đầy đủ hồ sơ bổ sung thì không tính vào thời hạn giám định tư pháp.
4. Trường hợp không hoàn thành đúng thời hạn giám định tư pháp, chậm nhất 24 giờ trước thời hạn trả kết luận giám định, người giám định tư pháp có văn bản đề nghị người trưng cầu giám định tư pháp gia hạn theo quy định tại khoản 5 Điều 30 Luật số 105/2025/QH15.