vanban.org

Điều 16. Tần suất khảo sát thông báo hàng hải vùng nước trước bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu chuyển tải — Thông tư 05/2026/TT-BXD

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/04/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Xây dựng Ban hành 10/02/2026 Hiệu lực 01/04/2026 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 3 đời thông tư · 5 phiên bản · 7 năm
Thông tư số 05/2026/TT-BXD Quy định về bảo trì công trình hàng hải và tần suất khảo sát thông báo hàng hải · 05/2026/TT-BXD
01/04/2026Bản gốcThay thế Hiện hành
Thông tư số 19/2022/TT-BGTVT quy định về bảo trì công trình hàng hải · 19/2022/TT-BGTVT
Thông tư số 07/2019/TT-BGTVT Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 52/2017/TT-BGTVT ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải về bảo trì công trình hàng hải · 07/2019/TT-BGTVT
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 05/2026/TT-BXD › Chương III › Điều 16
Đọc toàn văn

Điều 16. Tần suất khảo sát thông báo hàng hải vùng nước trước bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu chuyển tải

1. Tần suất khảo sát phục vụ thông báo hàng hải vùng nước trước bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu chuyển tải được xác định theo phương thức chấm điểm. Thang điểm đánh giá là 100 điểm, được xác định cụ thể theo tiêu chí quy định tại Phụ lục VI kèm theo Thông tư này với tổng điểm đánh giá như sau:

a) Tần suất khảo sát 01 năm/lần đối với vùng nước trước bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu chuyển tải có tổng số điểm đạt từ 80 điểm trở lên.

b) Tần suất khảo sát 02 năm/lần đối với vùng nước trước bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu chuyển tải có tổng số điểm đạt từ 65 điểm đến 79 điểm.

c) Tần suất khảo sát 03 năm/lần đối với vùng nước trước bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu chuyển tải có tổng số điểm chấm đạt từ 64 điểm trở xuống.

2. Đối với vùng nước trước bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu chuyển tải mới được công bố lần đầu, hoặc sau khi nạo vét cải tạo, nâng cấp thực hiện khảo sát với tần suất 12 tháng/lần trong 03 năm đầu trừ trường hợp trong hồ sơ thiết kế yêu cầu thực hiện khảo sát với tần suất nhiều hơn để đảm bảo an toàn và theo dõi mức độ bồi lắng.

3. Tần suất khảo sát phục vụ thông báo hàng hải vùng nước trước bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu chuyển tải được xác định theo quy định tại Thông tư này là tần suất tối thiểu. Trường hợp khu vực có điều kiện thủy văn phức tạp hoặc bồi lắng lớn, doanh nghiệp quản lý, khai thác công trình có trách nhiệm thực hiện khảo sát với tần suất nhiều hơn để phù hợp với nhu cầu thực tế và bảo đảm an toàn hàng hải trong quá trình khai thác.

4. Trường hợp bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu chuyển tải đang tạm dừng khai thác, tiếp nhận tàu thuyền hoặc đang triển khai thực hiện nạo vét khu nước, luồng hàng hải trùng với thời điểm thông báo hàng hải định kỳ, Cảng vụ hàng hải (hoặc Cảng vụ đường thủy nội địa trực thuộc Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam nơi có công trình) căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thực tế độ sâu tại luồng hàng hải, vùng nước trước bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu chuyển tải để quyết định điều chỉnh thời điểm thực hiện khảo sát ra thông báo hàng hải, nhưng không được vượt quá 12 tháng so với thời điểm khảo sát ra thông báo hàng hải bắt buộc theo quy định.

5. Định kỳ ba (03) năm một lần, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam công bố cập nhật Danh mục định kỳ khảo sát vùng nước trước bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu chuyển tải.

Chậm nhất hai (02) tháng kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam công bố lần đầu Danh mục định kỳ khảo sát vùng nước trước bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu chuyển tải.