vanban.org

Điều 6. Thuốc miễn thử lâm sàng — Thông tư 03/2012/TT-BYT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/02/2021 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 01/01/2019 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 29/2018/TT-BYT · 29/10/2018
Bộ Y tế Ban hành 02/02/2012 Hiệu lực 20/03/2012 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 phiên bản · 14 năm
Thông tư số 03/2012/TT-BYT Hướng dẫn về thử thuốc trên lâm sàng · 03/2012/TT-BYT
01/01/201929/2018/TT-BYTBãi bỏ Đang xem 28/10/201821/2018/TT-BYTBãi bỏ 20/03/2012Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 03/2012/TT-BYT › Chương II › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Thuốc miễn thử lâm sàng

1. Đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm y tế:

a) Thuốc hóa dược mang tên gốc (thuốc generic).

b) Thuốc nước ngoài chưa được cấp số đăng ký lưu hành tại Việt Nam nhưng đã được lưu hành hợp pháp ít nhất 05 năm tại nước xuất xứ (hoặc nước tham chiếu nếu điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cho phép) và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước đó xác nhận là an toàn và hiệu quả, có cùng đường dùng, hàm lượng và có chỉ định ở Việt Nam giống như chỉ định ở nước đó.

c) Thuốc nước ngoài đã được cấp số đăng ký lưu hành tại Việt Nam, nhưng có thay đổi hoặc bổ sung về chỉ định mới, đường dùng mới, dạng bào chế mới giống như chỉ định, đường dùng, dạng bào chế của thuốc đó đã được lưu hành hợp pháp ít nhất 05 năm tại nước xuất xứ (hoặc nước tham chiếu nếu điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cho phép).

2. Đối với vắc xin:

a) Vắc xin nước ngoài đã được cấp số đăng ký lưu hành tại Việt Nam còn hiệu lực, được nhập khẩu vào Việt Nam để hoàn thành giai đoạn dán nhãn, vào hộp.

b) Vắc xin đăng ký lại tại Việt Nam do hết hiệu lực số đăng ký và không có bất kỳ thay đổi nào.

3. Đối với thuốc đông y, thuốc từ dược liệu:

a) Các bài thuốc đông y được Bộ Y tế công nhận.

b) Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu nước ngoài chưa được cấp số đăng ký lưu hành tại Việt Nam nhưng đã được lưu hành hợp pháp ít nhất 05 năm tại nước xuất xứ (hoặc nước tham chiếu nếu điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cho phép) và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước đó xác nhận là an toàn và hiệu quả, có cùng đường dùng, hàm lượng và có chỉ định ở Việt Nam giống như chỉ định ở nước đó.