Điều 17. Công nhân ở một bậc nào chỉ được thăng lên bậc liền trên trong ngạch mình. — Sắc lệnh 77/SL
Đang đối chiếu hiệu lực…
So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/01/1952
Sửa đổi, bổ sung: 78/SL · 15/01/1952
Dòng đời phiên bản
1 phiên bản · 76 năm
15/01/195278/SLChưa hợp nhất
06/06/1950Bản gốcBan hành mới Đang xem
Bạn đang xem một phần của
Sắc lệnh 77/SL › Chương III › Điều 17
Đọc toàn văn
Mục lục
Điều 1. Trong thời kỳ kháng chiến công nhân giúp việc Chính phủ sẽ theo chế độ ấn định trong sắc lệnh này.
Chương I — NGẠCH BẬC - LƯƠNG BỔNG VÀ PHỤ CẤP
Điều 2. Công nhân giúp việc Chính phủ sẽ theo một thang lương chung gồm 18 bậc, ấn định trong bản số 1 đính theo sắc lệnh này.
Điều 3. Việc xếp vào ngạch bậc trong thang lương chung sẽ căn cứ theo những tiêu chuẩn ấn định trong bảng số 2 đính theo sắc lệnh này.
Điều 4. Mỗi Bộ sẽ cùng với Bộ Lao động, Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ dựa theo quy chế chung đặt thể lệ riêng cho những ngạch công nhân không có trong bảng tiêu chuẩn nói trên.
Điều 5. Ngoài số lương tháng, công nhân giúp việc Chính phủ được hưởng những phụ cấp và tiền thưởng dưới đây:
Điều 6. Những công nhân đàn bà, mà chồng không giúp việc Chính phủ được hưởng các thứ phụ cấp cho con như công nhân đàn ông và cả cho chồng, nếu chồng tàng tật không thể làm việc được.
Chương II — VIỆC TUYỂN DỤNG CÔNG NHÂN
Điều 7
Điều 8. Công nhân muốn được tuyển vào giúp việc Chính phủ phải có những điều kiện dưới đây:
Điều 9. Trước khi được tuyển vào chính ngạch, công nhân phải qua một thời kỳ tập sự từ 6 tháng đến 1 năm. Công nhân có nghề chỉ phải qua một thời kỳ thử thách không quá 3 tháng.
Điều 10. Trong thời kỳ tập sự hay thử thách, công nhân tuỳ trường hợp được xếp vào bậc được tuyển.
Điều 11. Công nhân ở bất cứ ngạch bậc nào cũng có thể dự những kỳ thi chuyên nghiệp để có thể được bổ lên ngạch bậc trên.
Điều 12
Điều 13. Công nhân được tuyển trước ngày ký sắc lệnh này sẽ được xếp vào ngạch và bậc mới, chiểu theo năng lực và thời gian làm việc, căn cứ theo những tiêu chuẩn ấn định trong bảng số 2 nói ở điều 3.
Chương III — THĂNG THƯỞNG - KHEN THƯỞNG
Điều 14
Điều 15. Hội đồng thăng thưởng gồm có:
Điều 16. Hội đồng thăng thưởng xét hồ sơ lý lịch các công nhân đủ hạn thâm niên, rồi lập bảng thăng thưởng theo thứ tự hơn kém.
Điều 17. Công nhân ở một bậc nào chỉ được thăng lên bậc liền trên trong ngạch mình.
Điều 18. Công nhân có công trạng và thành tích đặc biệt có thể được đặc cách cho thăng một hay nhiều bậc, hoặc cho chuyển lên ngạch trên, bất cứ lúc nào và không cần điều kiện thâm niên.
Điều 19. Thời hạn tại ngũ của công nhân tòng ngũ sẽ tính vào thâm niên trong ngạch bậc của mình.
Điều 20. Sự thăng thưởng có hiệu lực về phương diện lương bổng và thâm niên kể từ ngày 1 tháng 5 mỗi năm, hoặc kể từ ngày ký nghị định thăng thưởng đối với những trường hợp đặc cách thăng thưởng.
Điều 21. Những công nhân tận tuỵ với chức vụ, có công trạng hay thành tích về sản xuất, sáng chế, phát minh, v.v... sẽ được khen thưởng bằng:
Chương IV — GIỜ LÀM VIỆC - NGÀY NGHỈ - NGHỈ PHÉP
Điều 22. Giờ làm việc: Thì giờ làm việc là 9 tiếng một ngày.
Điều 23. Công nhân có thể làm đêm, nếu tính chất công việc và điều kiện chuyên môn buộc phải làm đêm.
Điều 24. Nếu vì một duyên cớ gì bắt buộc phải làm thêm giờ để kịp thực hiện chương trình sản xuất đã định, thì công nhân phải làm thêm giờ.
Điều 25. Nếu gặp công việc gấp rút, bất thường, thời hạn làm việc mỗi ngày sẽ không hạn định, để làm cho xong công việc ấy.
Điều 26. Nghỉ hàng tuần: Mỗi tuần công nhân được nghỉ một ngày. Ngày nghỉ hàng tuần có thể là ngày chủ nhật hay một ngày khác trong tuần.
Điều 27. Nghỉ lễ chính thức: Tất cả công nhân đều được nghỉ những ngày lễ chính thức đã định trong sắc lệnh số 29-SL ngày 12 tháng 3 năm 1947.
Điều 28. Nghỉ hàng năm: Mỗi năm, những công nhân đã làm trong xí nghiệp đúng một năm, được nghỉ 15 ngày liền lĩnh cả lương và phụ cấp.
Điều 29. Nghỉ vì đau ốm: Một nghị định liên Bộ Lao động, Tài chính, Y tế sẽ quy định việc cho công nhân nằm điều trị tại bệnh viện, cho nghỉ dưỡng bệnh, cho nghỉ vì mắc bệnh lao, hay bệnh phong.
Điều 30. Nghỉ vì thai sản: Công nhân đàn bà trong thời kỳ thai sản, được nghỉ hai tháng lĩnh cả lương và phụ cấp, một tháng trước và một tháng sau ngày sinh đẻ.
Chương V — CÔNG NHÂN THÔI VIỆC
Điều 31. Công nhân thôi giúp việc Chính phủ trong trường hợp dưới đây:
Điều 32. Xin thôi việc: Công nhân muốn xin thôi việc phải làm đơn trước hai tháng. Xét nhu cầu công việc, cơ quan quản trị có thể không chấp nhận.
Điều 33. Những công nhân phạm lỗi đang bị cấp chỉ huy đề nghị trừng phạt, truy tố trước toà án, không được xin thôi việc ngay, phải đợi quyết định của cơ quan quản trị hay bản án của toà án.
Điều 34. Thôi việc vì thiếu sức khoẻ: Công nhân không đủ sức khoẻ để tiếp tục công việc sẽ phải thôi việc, theo đề nghị của Hội đồng Giám định y khoa.
Điều 35
Điều 36. Thải hồi: Những công nhân đã làm việc trên một năm mà bị thải hồi vì thiếu năng lực, sẽ được hưởng một khoản trợ cấp tính bằng hai tháng lương và phụ cấp gia đình.
Điều 37. Những công nhân bị thải hồi vì phạm kỷ luật không được tuyển dụng lại vào một cơ quan nào khác của Chính phủ. Công nhân thải hồi vì phạm về hình luật, tùy trường hợp có thể không được tuyển dụng lại.
Điều 38
Điều 39. Nếu công nhân chết vì một tai nạn lao động, vợ chồng hoặc con được hưởng một khoản tiền bằng một năm lương có phụ cấp gia đình.
Điều 40
Điều 41. Tiền phí tổn để mai táng những công nhân chết vì đau ốm hay vì tai nạn lao động do cơ quan dùng công nhân chịu.
Điều 42. Về hưu: Sau khi làm việc được 30 năm, hoặc đã đủ 55 tuổi, công nhân được về hưu.
Điều 43. Trong trường hợp đặc biệt, công nhân đến hạn về hưu có thể được giữ lại giúp việc do quyết định của cơ quan quản trị.
Điều 44. Công nhân đã về hưu mà được gọi ra làm việc lại được hưởng lương bổng theo năng lực và công việc mới của mình.
Điều 45. Công nhân đã đủ điều kiện về hưu mà được giữ lại giúp việc hay công nhân đã về hưu mà được gọi ra làm việc lại, được quyền lĩnh số phụ cấp thâm niên, ngoài sổ lương tháng được lĩnh.
Điều 46. Phụ cấp thâm niên do nghị định Bộ Tài chính, Lao động, Nội vụ quy định sau.
Chương VI — KỶ LUẬT
Điều 47. Tuỳ theo lỗi nặng nhẹ, công nhân phạm kỷ luật sẽ chịu một trong những trừng phạt dưới đây:
Điều 48. Công nhân phạm kỷ luật sẽ bị đưa ra trước một Hội đồng kỷ luật gồm có:
Điều 49. Công nhân phạm lỗi thuộc về hình luật sẽ bị truy tố trước toà án, đồng thời có thể buộc phải nghỉ việc. Trong thời gian đợi toà án xét xử, công nhân bị cáo được lĩnh phần nửa lương và phụ cấp.
Điều 50. Sau khi toà án xét xử, nếu công nhân được tha bổng thì sẽ được truy lĩnh số lương bổng từ khi buộc phải nghỉ việc.
Điều 51. Công nhân giúp việc trong các cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng vô cớ bỏ việc sẽ coi như quân nhân đào ngũ và sẽ bị truy tố trước toà án binh.
Chương VII — CHẾ ĐỘ HỌC NGHỀ
Điều 52. Người tình nguyện học nghề phải được 14 tuổi trở lên. Sau thời gian học nghề từ 6 tháng đến 1 năm người học nghề phải qua một kỳ khảo sát để được tuyển vào thợ tập sự. Hội đồng khảo sát gồm có:
Điều 53. Một ngày ít nhất phải có 3 giờ dạy về lý thuyết và văn hoá.
Điều 54. Trong lúc học nghề, người học nghề được cấp sinh hoạt phí.
Điều 55
Chương VIII — CÔNG NHÂN TUYỂN DỤNG THEO GIAO KÈO
Điều 56. Ngoài các hạng công nhân tuyển dụng theo quy chế này các cơ quan Chính phủ còn có thể dùng công nhân theo giao kèo, hoặc mướn theo công nhật.
Điều 57. Lương bổng và điều kiện làm việc của công nhân có giao kèo, sẽ quy định trong các bản giao kèo ký kết giữa công nhân và cơ quan dùng nhân công.
Điều 58. Chi tiết thi hành sắc lệnh này sẽ do nghị định Bộ trưởng Bộ Lao động ấn định.
Điều 59. Những thể lệ trái với sắc lệnh này đều bãi bỏ.
Điều 60. Các ông Bộ trưởng các Bộ chiểu sắc lệnh thi hành.
Không có điều nào khớp từ khoá.
Ghi chú của bạn
Ghi chú riêng của bạn cho: văn bản này
Ghi chú đã lưu
Cỡ chữ
Font chữ
Giãn dòng
Độ rộng
Nền giấy