Điều 6. Đơn vị quản lý công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung
1. Đơn vị quản lý công trình
Trên cơ sở tiêu chí phân cấp quản lý, vận hành, khai thác công trình tại Điều 4 của Quy định này, công trình được giao cho đơn vị quản lý, vận hành, khai thác theo thứ tự như sau:
a) Đơn vị sự nghiệp công lập: Ở cấp tỉnh là Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, đơn vị sự nghiệp công lập khác do Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập; ở cấp huyện là các Ban quản lý nước sạch do Ủy ban nhân dân cấp huyện thành lập;
b) Doanh nghiệp gồm: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, công ty quản lý khai thác công trình thuỷ lợi, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã;
c) Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn (Ủy ban nhân dân cấp xã).
2. Tổ chức hoạt động và tài chính của đơn vị quản lý công trình
a) Hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Lao động và các quy định pháp luật liên quan khác.
b) Kinh phí hoạt động của các đơn vị quản lý công trình chủ yếu từ nguồn thu tiền sử dụng nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định.
c) Đối với công trình cấp nước cho nhân dân ở địa bàn thôn (bản) thuộc diện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, không thu được tiền sử dụng nước thì kinh phí bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa công trình, hỗ trợ cho công tác quản lý, vận hành do Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, cấp bù từ ngân sách địa phương để đảm bảo công trình hoạt động bền vững.
d) Tổ chức nhân sự, phân công trách nhiệm, trang thiết bị, cơ sở vật chất phải được quy định cụ thể tại Quy chế làm việc của từng đơn vị quản lý công trình và phải đảm bảo các điều kiện theo quy định của pháp luật.