Điều 5. Phân cấp ứng phó sự cố tràn dầu
Căn cứ vào mức độ sự cố tràn dầu, việc tổ chức ứng phó trên địa bàn thành phố được thực hiện theo 03 cấp sau đây:
1. Cấp cơ sở
a) Chủ cơ sở tổ chức, chỉ huy lực lượng, phương tiện, thiết bị của mình hoặc lực lượng, phương tiện, thiết bị theo hợp đồng để triển khai ứng phó kịp thời, hiệu quả; Chủ cơ sở chịu trách nhiệm chỉ huy hiện trường trong giai đoạn ứng phó ban đầu.
b) Trường hợp sự cố vượt quá khả năng ứng phó của cơ sở, chủ cơ sở báo cáo ngay cơ quan chủ quản, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra sự cố, đồng thời báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố thông qua Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố và Sở Nông nghiệp và Môi trường để được hỗ trợ.
c) Trường hợp sự cố xảy ra trong khu vực ưu tiên bảo vệ hoặc có nguy cơ gây hiệu quả nghiêm trọng, người đứng đầu cơ sở, đơn vị là chỉ huy hiện trường, đồng thời báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố và Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia để chỉ đạo, kịp thời ứng phó.
2. Cấp thành phố
a) Khi sự cố tràn dầu vượt quá khả năng ứng phó của cơ sở hoặc xảy ra chưa rõ nguyên nhân trên địa bàn thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố trực tiếp chủ trì ứng phó, quyết định hoặc chỉ định chỉ huy hiện trường để tổ chức ứng phó theo kế hoạch của địa phương.
b) Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố là cơ quan thường trực, đầu mối giúp Ủy ban nhân dân thành phố tổ chức ứng phó sự cố tràn dầu cấp thành phố; chủ trì tham mưu huy động lực lượng, phương tiện, thiết bị của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn; phối hợp triển khai biện pháp ngăn ngừa, khống chế, xử lý sự cố theo thẩm quyền.
3. Cấp quốc gia
Trường hợp sự cố tràn dầu đặc biệt nghiêm trọng vượt quá khả năng ứng phó của thành phố, Ban Chỉ huy quân sự thành phố tham mưu UBND thành phố báo cáo Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia và cơ quan có thẩm quyền để được chỉ đạo, hỗ trợ theo quy định.
4. Trong quá trình ứng phó, cơ quan chủ trì hoặc chỉ huy hiện trường chủ động xử lý, báo cáo kịp thời diễn biến sự cố, đề xuất kiến nghị cần thiết đến cấp có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.