Điều 4. Sử dụng, quản lý tiền phạt vi phạm hành chính; tiền bán lâm sản và phương tiện, tang vật tịch thu:
- Lâm sản và tang vật tịch thu sau một tháng: phải bán, sung vào công qũy Nhà nước theo qui định hiện hành của Bộ Tài chính và xử lý tiền phạt vi phạm hành chính, tiền bán lâm sản, phương tiện, tang vật tịch thu theo qui định tại Thông tư liên tịch số 102/1999/TTLT-BTC-BNNPTNT ngày 21/8/1999.
Sau khi trừ các khoản chi phí theo quy định, số tiền còn lại tiến hành trích 30% lập "Qũy chống chặt, phá rừng và sản xuất, kinh doanh, vận chuyển lâm sản trái phép’’; số 70% còn lại nộp ngân sách Nhà nước.
- UBND các huyện, thị xã dùng phần 70% nộp ngân sách từ nguồn thu xử phạt hành chính, bán phương tiện, tang vật tịch thu trên địa bàn huyện, thị xã vào việc cấp cho các hạng mục trong kế hoạch, phương án bảo vệ rừng của Ban chỉ đạo bảo vệ rừng cấp huyện, thị xã và xã đã được duyệt của cấp thẩm quyền như: Chi phí tuần tra, kiểm tra, truy quét; mua sắm công cụ hỗ trợ; trang bị phương tiện kỹ .thuật, thông tin, liên lạc, đi lại; tuyên truyền, giáo dục, vận động phòng cháy chữa cháy rừng, bảo vệ rừng; sơ, tổng kết công tác bảo vệ rừng; văn phòng phẩm....
- Chi cục Kiểm lâm tham mưu cho UBND tỉnh duyệt kế hoạch, phương án bảo vệ rừng cấp huyện, thị xã hàng năm. Hạt Kiểm lâm tham mưu cho UBND huyện duyệt kế hoạch, phương án bảo vệ rừng các xã hàng năm.
- Sở Tài chính - Vật giá, Kho bạc Nhà nước phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tham mưu cho UBND tỉnh về duyệt cấp kinh phí thực hiện kế hoạch, phương án bảo vệ rừng cấp tỉnh, huyện, thị xã theo định kỳ và đột xuất theo ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh; theo dõi, giám sát, kiểm tra việc sử dụng và quyết toán kinh phí này hàng tháng, quý, năm, đảm bảo tiết kiệm, chống lãng phí và hiệu qua công tác.